nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Kinh nghiệm đàm phán BTA với Hoa Kỳ - Bài học đối với đàm phán TPP

Tác giả: Nguyễn Đình Lương

(Nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA Việt – Mỹ)

30/3/2012  14:15 GMT+7

Tự nhiên có người hỏi tôi về: "Kinh nghiệm đàm phán BTA với Hoa Kỳ - Bài học đối với đàm phán TPP" – Câu hỏi hay thật, nhưng khó vì:

Thứ nhất, cuộc đàm phán BTA với Hoa kỳ là một cuộc đàm phán khó khăn, nó đến với tôi ở cái thời "tóc bạc, răng long". Tôi chỉ cố làm cho xong, hất đi cái hòn đá đè nặng trên cổ, rồi chuồn thẳng về hưu, quyết không quay nhìn trở lại, tôi không còn bụng dạ nào để ngồi sơ tổng kết rút bài học kinh nghiệm.

Thứ hai, cuộc đàm phán TPP ngày nay khác với đàm phán BTA. Nó là một cuộc đàm phán đa phương. Nó là một cuộc chiến hiện đại, chắc phải có chiến thuật hiện đại và vũ khí hiện đại - (Tư duy hiện đại và kiến thức hiện đại).

Vậy xin tạm giăm câu. Giăm câu thì khó, nhưng ba điều thì được, 3 điều rút ra từ cuộc đàm phán BTA là:

1. Cần có một sự đồng thuận nội bộ trên cơ sở thống nhất nhận thức về những vấn đề thời đại từ một góc nhìn lợi ích phát triển của đất nước.

2. Cần làm rõ mục tiêu đàm phán các FTA và TPP.

3. Thái độ của chúng ta đối với cái quy phạm phổ quát trong quan hệ quốc tế và những khía cạnh nhạy cảm của nó.

* Vấn đề thứ nhất: Cần có một sự đồng thuận nội bộ trên cơ sở thống nhất nhận thức về những vấn đề thời đại từ một góc nhìn lợi ích phát triển của đất nước.

Xã hội hiện đại là một xã hội đa màu sắc, mỗi cá thể nhìn vào một màu, xã hội được đánh giá rất khác nhau.

Rất khó tìm được sự thống nhất nhưng lại phải có sự thống nhất, để tìm sự đồng thuận. Trong các vấn đề lớn và khó và nhiều màu sắc như vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế lại càng phải có sự đồng thuận.

Khi bắt đầu đàm phán BTA với Hoa Kỳ (năm 1996) ta chỉ mới có một sự thống nhất là: "Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc phấn đấu vì hoà bình và phát triển". Ta chưa cập nhật thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế (Hội nhập kinh tế quốc tế mới được đề cập tại Đại hội IX của Đảng, tháng 4/2011 và đến cuối tháng 11/2001 mới có NQ07 của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế (nghĩa là sau BTA).

Lúc đó ta chưa phổ cập nhận thức về vấn đề hội nhập, vì từ lâu ta quyết xa lánh luật chơi tư bản. Những hiểu biết về Mỹ còn rất hạn chế, chủ yếu là những âm mưu thủ đoạn chiến tranh. Những thông tin, đánh giá về sức mạnh kinh tế Mỹ, về vai trò của Mỹ trong nền kinh tế thế giới chưa được phép chuyển tải vào Việt Nam. Nên thời đó đàm phán rất vất vả, bàn lên, bàn xuống, rất lâu.

Lại nói về NQ07 của Bộ Chính trị về HNKTQT.

Sau khi có tư tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ IX "Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững", NQ07 Bộ Chính trị ra đời. Đây là lần đầu tiên có một Nghị quyết khá bao quát về những vấn đề HNKTQT.

NQ07 xác định, mục tiêu của Hội nhập là "mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN". Ta đã triển khai hội nhập trên tinh thần đó và đã gia nhập WTO trên mục tiêu đó.

Mấy hôm nay, trên các diễn đàn ta bắt đầu mổ xẻ kết quả 5 năm gia nhập WTO. Nói rất khác nhau: Xuất khẩu tăng nhiều, đầu tư vào nhiều là nhờ hội nhập. Xuất khẩu mặt hàng nào đó gặp khó khăn, đầu tư thời gian nào đó tụt giảm, lĩnh vực nào đó đầu tư không vào … cũng đều tại hội nhập: Hội nhập vội vàng, không có chuẩn bị trước .v.v…

Có phải với nhận thức hội nhập là xuất khẩu và thu hút đầu tư mà ta chủ yếu loay hoay trong cái bị đựng lợi thế nhân công rẻ, dồn sức cho gia công những mặt hàng xuất khẩu rẻ tiền. Gia công sản phẩm ở những công đoạn đơn giản. Ai vào đầu tư cũng mời, vào đầu tư chủ yếu để khai thác nhân công giá rẻ, khai thác tài nguyên và khai thác thị trường.

Có phải việc đó cũng góp phần làm cho nền kinh tế Việt Nam hôm nay trở thành một mớ bòng bong? Nhìn vào đâu cũng thấy phải cấu trúc lại, ngành nghề nào cũng phải cơ cấu lại? Và Việt Nam dù đã bò vào được khối nước có thu nhập trung bình thấp, nhưng khoảng cách về trình độ phát triển của nước ta với các nước xung quanh lại càng xa nhanh hơn?

Vấn đề đặt ra về nhận thức là:

Hội nhập là để mở rộng thị trường, để tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư, giải quyết công ăn việc làm, đúng rồi.

Nhưng hội nhập không chỉ là để xuất khẩu, là để thu hút đầu tư, là để giải quyết công ăn việc làm.

Ta cần có một nhận thức, hiểu biết sâu hơn thế, rộng hơn thế. Sự vật vận động liên tục, nhận thức cần phải điều chỉnh. NQ07  đã 10 năm. Đã đến lúc phải sơ tổng kết. Phải có những nhận định đánh giá sâu hơn để đi tiếp con đường hội nhập.

Theo tôi, phải hiểu hội nhập là kết nối nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, và phải tìm một điểm kết nối tương đối chuẩn để từ đó có thể khai thác tốt các cơ hội toàn cầu hoá kinh tế mang lại. Từ đó có thể khai thác tốt nhất những lợi thế tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam để phát triển một nền kinh tế có sức cạnh tranh tốt để thành công trong cuộc đua toàn cầu. (Có phải các nước quanh ta như Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan đang làm được như thế?.Họ đang kết nối tốt với nền kinh tế thế giới?)

Ta đang cần có một chiến lược kinh tế chuẩn thời hội nhập theo những mục tiêu đó.

Thời đại ngày nay không có kinh tế độc lập tự chủ theo khái niệm truyền thống. Và nền kinh tế Việt Nam hôm nay đã là một bộ phận cấu thành (ở tầng thấp) của nền kinh tế thế giới.

Việc triển khai Chương trình cấu trúc lại nền kinh tế mà Đảng ta đang thực hiện hôm nay chỉ có thể thành công trong một chiến lược hội nhập chuẩn. Hay nói cách khác một Nghị quyết mới, một chương trình hội nhập mới của Đảng sẽ dẫn đường và thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phải làm rõ cơ cấu lại theo hướng nào, theo những chuẩn mực nào, cấu trúc lại theo hướng mở, hay theo hướng đóng, cấu trúc lại để cạnh tranh hay để bảo hộ? .v.v… Đó là điều phải nhận thức được, phải có sự đồng thuận. Thiết kế một chiến lược kinh tế hội nhập là một việc khó. Nó lại càng khó hơn trong lúc nền kinh tế thế giới rục rịch cấu trúc lại. Nhưng không thể không làm, không để tình trạng vừa đi vừa dò đường như hôm nay.

* Vấn đề thứ hai: Cần làm rõ mục tiêu đàm phán FTA và TPP.

Trước khi vào một trận đánh, dù lớn, dù bé, ta cũng phải xác định mục tiêu. Xác định mục tiêu để hướng nòng súng vào đích, để hướng làn đạn cho tập trung.

Có phải mục tiêu đàm phán Giơnevơ là: độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước?

Có phải mục tiêu đàm phán Paris là: Mỹ phải cút khỏi Việt Nam để rồi công việc của Việt Nam do người Việt Nam giải quyết lấy?

Đàm phán BTA với Hoa Kỳ lúc đầu chỉ mới xác định đơn giản là để hoàn tất quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Trong quá trình đàm phán ta mới nhận thức ra một mục tiêu quan trọng kèm theo là để xây dựng quan hệ đối tác lâu dài và để rồi gia nhập WTO.

Mục tiêu của Việt Nam trong đàm phán các FTA và TPP là gì?

Trước lúc xác định mục tiêu, là hãy xem FTA và TPP là gì.

Cho dù nền kinh tế thế giới đã và đang trải qua những bước thăng trầm, cảm hàn có, cảm nhiệt có, nhưng xu thế toàn cầu hoá vẫn là sự phát triển khách quan, và đang vận hành trên đường ray của nó, đang vận hành trên các chuỗi giá trị đã hình thành.

Kể cả thời khủng hoảng tài chính trước đây, cả thời khủng hoảng nợ công hôm nay, kinh tế thế giới gặp khó khăn, nhưng không một quốc gia nào dẫm đạp lên các luật chơi chung, các quy định của WTO.

Các quốc gia, các thế lực kinh tế, những người có khả năng khai thác được nhiều nhất những cơ hội của toàn cầu hoá đang tích cực thúc đẩy, đang thổi thêm lửa vào quá trình toàn cầu hoá.

Do chiếc áo WTO mặc chung cho cả 150 quốc gia là quá chật đối với họ. Họ muốn đi nhanh hơn, muốn có một thế giới rộng mở hơn, muốn có môi trường, kinh tế thương mại thông thoáng hơn. Trước đây họ đã từng hy vọng vào vòng đàm phán DOHA, nay hy vọng đó đã tắt. Họ tìm cách phá rào, họ đang đàm phán, ký kết và phê chuẩn các FTA, trước hết là Mỹ và các nước có nền kinh tế mở, kinh tế thị trường, kinh tế phát triển. Và TPP cũng thuộc vào loại này. Nghĩa là những cam kết, thoả thuận trong các FTA và TPP cao hơn, rộng hơn WTO, nó là WTO+, chủ yếu là dành cho các nước phát triển.

Việt Nam tham gia các FTA và TPP với mục đích gì?

Có phải là vì phong trào? Nếu chỉ vì phong trào thì thôi, không nên. Phong trào ở ta phần lớn là phong trào đánh trống bỏ dùi. Có phải vào WTO xong, ta cũng vứt luôn dùi trống?

Phong trào chồng lên phong trào đang trở thành một thứ văn hoá không hợp cảnh, trong điều hành kinh tế xã hội thời kinh tế thị trường (thời chiến, thời bình có quy luật riêng của nó).

Có phải tham gia các FTA và TPP để tìm một lối thoát mới cho nền kinh tế? Để tạo cho nền kinh tế Việt Nam một bước phát triển mới cao hơn?…Tạo ra một sức ép mạnh hơn để thúc đẩy cải cách trong nước?

Nếu làm được như vậy thì tuyệt vời, đó là việc rất cần làm. Nhưng muốn làm được phải có một nhận thức mới hơn, một trình độ và phương pháp quản lý kinh tế, hiện đại. (ở các nước người ta điều hành bằng luật, dân sống theo luật, doanh nghiệp kinh doanh theo luật, nhà nước quản lý theo luật).

* Vấn đề thứ ba: Thái độ của chúng ta đối với các quy phạm phổ cập trong quan hệ quốc tế và tính nhậy cảm của nó.

Muốn tìm được tiếng nói chung, muốn có thoả thuận, song phương cũng như đa phương, quốc tế, cũng như khu vực, những quy phạm phổ quát là phải chấp nhận. Đó là nguyên tắc. Chơi trên cùng một sân phải theo luật chơi trên sân.

BTA Việt - Mỹ là Hiệp định song phương được thiết kế trên luật chơi đa phương WTO đã xảy ra các trường hợp sau:

1. Khi các quy phạm, pháp luật đó trái với quy định của pháp luật Việt Nam.

Có nhiều trường hợp, điển  hình là nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT), tức là bình đẳng, không phân biệt đối xử với hàng hoá trong nước và hàng hoá ngoài nước, đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài.

Nguyên tắc này là hoàn toàn trái ngược với các quy định pháp luật Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc Nhà nước độc quyền và phân biệt đối xử giữa trong và ngoài nước, giữa quốc doanh và ngoài quốc doanh.

Ta không thể từ chối vì đó là nguyên tắc phổ quát. Không có bình đẳng thì không có sân chơi chung. Nó đã có trong GATT 1947.

Ta chấp nhận nguyên tắc Đối xử quốc gia và đàm phán bảo lưu một lộ trình từng bước sửa đổi pháp luật của ta để luật ta phù hợp với WTO.

2. Khi các quy phạm pháp luật phổ quát trên thế giới chưa có hoặc có mà chưa đủ trong hệ thống luật pháp Việt Nam.

Chương sở hữu trí tuệ: Lúc đó bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đã đề cập trong Bộ Luật Dân sự, nhưng chưa đủ, và không có điều khoản tổ chức thi hành. Ta đã quen dịch sách của người ta để bán, nên nhiều người phản đối. Ta phải chấp nhận vì đây là luật chơi chung rồi. Vả lại không bảo vệ sở hữu trí tuệ thì không có sản phẩm trí tuệ, trí tuệ xã hội không phát triển.

Chương phát triển quan hệ đầu tư trong BTA gồm 15 điều, chỉ có 1 điều liên quan đến WTO (điều khoản về Hiệp định TRIMs), 14 điều khác phần lớn chưa có trong các Hiệp định bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký với các nước thời điểm đó, và cũng chưa có trong các quy định của pháp luật Việt Nam như vấn đề bồi thường, bồi thường thế nào, theo giá cả nào, cách tính thế nào, như vấn đề giải quyết các tranh chấp, giải quyết ở đâu? theo luật nào? .v.v…  Những quy định này đã phổ biến trong đầu từ quốc tế vì nó minh bạch, nó bảo vệ quyền lợi cho các bên đầu tư, Việt Nam ta chấp nhận để làm thông thoáng môi trường đầu tư và sau đó ta sửa luật đầu tư của ta.

Chương thương mại dịch vụ: Thương mại dịch vụ trong GATT chưa có, chỉ đến WTO mới tách ra thành một Hiệp định riêng. Trước BTA Việt Mỹ, trên thế giới các ngành dịch vụ đã phát triển mạnh, đặc biệt các ngành dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải .v.v… ở Việt Nam phần lớn các ngành dịch vụ chưa được coi là ngành kinh tế độc lập nên không có luật điều tiết. Ta đã chấp nhận đưa vào BTA để rồi sau đó Quốc hội từng bước xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật liên quan.

Thời đó, Bưu chính viễn thông và tài chính ngân hàng đều coi là hai vùng cấm, là an ninh, là bí mật quốc gia được bảo vệ bằng nhiều lớp, nhiều hàng rào dây thép gai, người lạ đứng ngoài nhìn vào cũng không được. Nhưng rồi nó cũng bị chọc thủng để hội nhập, hôm nay nó đang trở thành ngành kinh tế cạnh tranh nhất ở Việt Nam, những ngành đang hái ra tiền, mà an ninh quốc gia vẫn được đảm bảo.

Hôm nay, ở Việt Nam nhiều gia đình không còn điện thoại bàn nữa. Điện thoại cầm tay đang nhanh chóng trở thành phương tiện liên lạc, phương tiện truy cập thông tin, xử lý điều hành công việc, phương tiện giải trí, phương tiện mua bán, phương tiện thanh toán. Nghĩa là nó đang làm cho cuộc sống thay đổi rất nhanh. Nhanh hơn nhiều sự thay đổi trong tư duy nhận thức của chúng ta.

Vậy cái gì làm thước đo để chúng ta quyết định bỏ đi những tư duy, kiến thức lỗi thời, những quy phạm pháp luật lạc hậu, để xây cái mới phù hợp với luật chơi thế giới? Xin thưa: Đó là lợi ích của sự phát triển của đất nước cùng thời đại. Ba mươi năm Đổi mới, vì lợi ích phát triển đất nước, trên cơ sở nhận thức những đổi thay thời đại, chúng ta đã gạch xoá đi khỏi cuốn Kinh thánh bao nhiêu điều húy kỵ, chúng ta đã đưa vào bức tranh kinh tế xã hội đất nước ta bao nhiêu màu sáng, màu tươi. BTA là tiếp nối con đường Đổi mới mà Đảng ta đã vạch ra.

Tính nhạy cảm khi xử lý các quy phạm phổ quát.

Trên thế giới, Mỹ là quốc gia có khả năng khai thác tốt nhất những cơ hội toàn cầu hoá kinh tế.

Một mặt, do sức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế và cơ cấu kinh tế đã hình thành; một mặt do Mỹ đã kịp quốc tế hoá những quy phạm pháp luật của Hoa Kỳ. Trong kinh tế quốc tế, quá trình phát triển của GATT rồi chuyển GATT thành WTO là quá trình Mỹ nhồi nhét, áp đặt hầu hết các quy phạm pháp luật của Mỹ thành của WTO ngày nay, tức cho cả thế giới.

Xin quý vị hãy đối chiếu những nguyên tắc, quy định của WTO như: tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, cạnh tranh bình đẳng, chống bán phá giá, trợ cấp và chống trợ cấp .v.v… có phải đã có từ lâu trong hệ thống luật pháp cội nguồn của nước Mỹ? Luật về tự do trong đó có tự do kinh doanh năm 1789? Luật chống độc quyền, cạnh tranh bình đẳng của Sheman năm 1890? Luật chống bán phá giá năm 1916? Luật về trợ cấp và chống trợ cấp năm 1930 .v.v…?Còn lại một số quy định, nội dung hoặc không trực tiếp liên quan đến thương mại, hoặc gặp phải sự chống đối quyết liệt ở đâu đó, người Mỹ đang kiên trì từng bước phổ cập theo các kênh khác nhau, trong đó có FTA và TPP như: quyền lập hội, doanh nghiệp Nhà nước, mua sắm chính phủ, tự do Internet .v.v…

Người Mỹ cho rằng, những thuộc tính của Giá trị Mỹ như: mở, tự do, minh bạch, công bằng là cội nguồn của sự phồn vinh và tiến bộ mãnh liệt nhất,đã góp phần làm nên sức mạnh Mỹ và cũng là một phần không tách rời của thể chế chính trị, kinh tế, luật pháp Mỹ. Người Mỹ muốn các quốc gia khác trên thế giới chấp nhận nó. Vì nó càng phổ cập lợi ích của Mỹ càng lớn. Người Mỹ hoàn toàn công khai ý đồ này ở trên tất cả các loại diễn đàn, ở trong mọi cơ hội.

Vấn đề là ở chỗ: với những quốc gia đang tham gia đàm phán TPP như Australia, Newzeland, Singapore .v.v… họ là nước kinh tế thị trường, kinh tế mở, là nước có trình độ phát triển cao. Với họ việc chấp nhận những yêu cầu trên của Mỹ không phải là khó, và thực tế họ đã chấp nhận trong các FTA song phương với Mỹ, cũng như trong hệ thống luật pháp của họ.

Khi mà các nước tham gia đàm phán TPP chấp nhận, thì nghĩa là quy phạm đó đã là quy phạm phổ quát trong khối TPP. Việt Nam không chấp nhận nghĩa là Việt Nam không tham gia. Đó sẽ là một sự lựa chọn khó khăn, nhưng ta sẽ lựa chọn đúng khi ta đặt lợi ích phát triển đất nước lên trên hết như ta đã làm trong quá trình Đổi mới hơn 30 năm qua.

 

 

 

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website