nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 4
Lượt thứ       : 74018

BTA DẪN DẮT KINH TẾ VIỆT NAM VÀO ĐƯỜNG RAY KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỂ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Nguyễn Đình Lương

Nguyên Trưởng đoàn đàm phán

 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ

 

LTS: Tác động của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) đã được phân tích, mổ xẻ nhiều từ các góc độ khác nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Ô. Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định này là người trong cuộc. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, TuanVietnamnet đề nghị ông phát biểu về những điều ông nhìn nhận.

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Đường đi còn tắc.

Cuộc đàm phán Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) bắt đầu từ cuối năm 1995. Cho đến lúc đó, Việt Nam đã gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ trên tinh thần "Việt Nam chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc, phấn đấu vì hòa bình và phát triển". Việt Nam khi đó chưa có hướng dẫn về hội nhập kinh tế; Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế của Bộ Chính trị ban hành tháng 11/2001 tức là hơn một năm sau khi BTA được ký kết, trong đó đề cập đến mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc hội nhập...

Ở cái thời đó, xã hội Việt Nam, sau khi đã không thành công với nền kinh tế bao cấp, kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đã nhận thức được rằng, phải chấp nhận kinh tế thị trường để phát triển, rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của xã hội loài người, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Việt Nam bắt đầu bằng một quá trình "phá", cố gắng "phá" hết những cái gì có màu sắc "bao cấp", những cái gì cho là không phải kinh tế thị trường. Phá thì dễ, nhưng "xây" thế nào để có một nền kinh tế thị trường trong lòng chủ nghĩa xã hội thì chưa rõ, còn bàn cãi, còn đấu đá….

Tôi còn nhớ, Luật thương mại được viết lại và được ban hành năm 1995, nhưng mười năm sau ít thấy một điều khoản nào đi vào cuộc sống. Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được "chốt" khá chặt chẽ ở 3 chương, 80 điều trong Bộ luật dân sự 1995, nhưng ở một cửa hàng bán các đĩa nhạc trên phố Tràng Tiền ngay cạnh tòa nhà Bộ thương mại, bán toàn đồ rởm, đồ nhái mà không ai làm gì được, vì Luật không quy định điều khoản thực thi, không quy định giao cho ai bắt, ai thu. Bắt, thu xong xử lý thế nào ….!

Một dự thảo "sặc mùi Mỹ"

Sau mấy vòng gặp gỡ cả ở Hà Nội, cả ở Washington D.C tìm hiểu luật lệ, cơ chế, chính sách của các bên, sáng ngày 12/4/1997 đầu giờ vòng đàm phán thứ 4 tại phòng khách Bộ thương mại, 31 phố Tràng Tiền Hà Nội, ông Jozeph Damond, Trưởng đoàn đàm phán Hoa Kỳ trao cho tôi bản dự thảo Hiệp định BTA gồm 4 phần: Thương mại hàng hóa, sở hữu trí tuệ, quan hệ đầu tư, thương mại dịch vụ… và báo cho chúng tôi biết rằng: Dự thảo được thiết kế trên những nguyên tắc của WTO.

Sau khi đọc bản dự thảo tôi thực sự bị choáng, nó "sặc mùi Mỹ", nó quá mới mẻ, hàng loạt khái niệm chưa được tiếp cận, làm quen:

- Bản dự thảo thiết kế trên những nguyên tắc WTO, mà ở thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ mói nghe chứ WTO, chưa biết nội dung của nó là gì. Ngay cả những nội dung của GATT ở Việt Nam cũng chưa được chuyển tải trên phương tiện thông tin vì đó là luật chơi của "phe tư bản", xa lạ với luật chơi XHCN.

- Trong dự thảo, Hoa Kỳ đưa ra quy chế Đối xử quốc gia (National Treatment), Đối xử bình đẳng giữa hàng hóa trong nước và ngoài nước, giưa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, giữa doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Trong từ điểm tiếng Việt ở Việt Nam chưa có từ này. Nó trái với quan điểm, đường lối, chính sách và luật lệ kinh tế XHCN ở Việt Nam.

- Hoa Kỳ yêu cầu gỡ bỏ hết mọi rào cản thương mại theo quy định của WTO, thực thi một nền thương mại tự do. Nó vi phạm nguyên tắc quyền độc lập tự chủ của Việt Nam.

- Hoa Kỳ đòi Việt Nam giảm thuế xuất nhập khẩu. Đây cũng là điều khó vì trong lúc ở Hoa Kỳ thuế XNK chỉ chiếm chưa đầy 2% nguồn thu ngân sách, ở Hoa Kỳ có thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản.v.v… thì ở Việt Nam, cũng như ở các nước XHCN trước đó, thuế XNK là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách, nó chiếm gần 20% ngân sách, ngoài thuế XNK lúc đó Việt Nam chưa có thuế nào khác. Nếu cắt giảm thuế XNK thì ngân sách khó khăn.

- Trong chương Thương mại dịch vụ, Chương Thương mại dịch vụ cũng mới được thiết kế vào trong WTO, trước đây trong GAT chưa có.

Trong lúc trên thế giới, đặc biệt ở Hoa Kỳ, các ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, đã có luật lệ hoàn chỉnh để điều tiết, thì ở Việt Nam lúc đó các dịch vụ như ngân hàng, vận tải.v.v… vẫn được coi như chỉ là khâu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, chưa có bất kỳ một luật nào điều tiết hoạt động dịch vụ. Hoa kỳ quan tâm và yêu cầu Việt Nam mở cửa cả những ngành dịch vụ nhạy cảm mà lúc đó Việt Nam coi là lĩnh vực liên quan an ninh quốc gia, là vùng cấm như tài chính, viễn thông…

- Trong chương quan hệ đầu tư: Nội dung mà Hoa Kỳ đưa ra đàm phán là dựa vào Hiệp định đầu tư mẫu (Model Investment Treaty) mà Hoa Kỳ đã ký trong NAFTA và với các nước phát triển khác. Những nội dung này hoàn toàn khác với các Hiệp định bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký với hàng chục nước trong đó có cả những nước phát triển. Đặc biệt có những quy định mới và chặt chẽ như: Khái niệm về đầu tư, về nhà đầu tư, quy định về vấn đề trưng dụng, quốc hữu hóa, đền bù, sử dụng trọng tài quốc tế để giải quyết tranh chấp…

Chung quy lại những nguyên tắc mà Hoa kỳ muốn cài đặt vào BTA để làm hành lang pháp lý vận hành quan hệ kinh tế thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam là:

* Nguyên tắc bình đẳng:

- Bình đẳng không phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu.

- Bình đẳng không phân biệt giữ đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

* Nguyên tắc kinh tế mở:

- Các doanh nghiệp tự do kinh doanh XNK mọi hàng hóa mà luật không cấm. Các nhà đầu tư được xuất khẩu những hàng hóa do mình sản xuất ra và nhập khẩu những hàng hóa phục vụ cho sản xuất.

- Mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào, thực thi một chính sách đầu tư minh bạch, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, bỏa vệ quyền sở hữu trí tuệ, thực thi một cơ chế đầu tư thông thoáng phù hợp với thông lệ quốc tế.

* Nguyên tắc luật pháp: Phải công khai, minh bạch, thống nhất đồng bộ, dễ hiểu, dễ thực thi, dân và các doanh nghiệp phải được tham gia góp ý trong quá trình xây dựng luật.

Cuộc đàm phán diễn ra trầy trật, kéo dài, lên bờ xuống ruộng. Chấp nhận những cam kết như thế này nghĩa là phá vỡ gần như toàn bộ khung pháp lý hiện hành. Đó là điều chưa có trong một cuộc đàm phán quốc tế.

Nhưng rỗi, trên cơ sở nhận diện được xu thế phát triển của thời đại, những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế thế giới, cùng với nhu cầu bình thường hóa đầy đủ quan hệ với Hoa Kỳ. Thêm vào đó, xã hội cũng đã nhận ra được rằng, hệ thống pháp lý Việt Nam thời điểm đó đang cản trở sự phát triển đang làm bế tắc mọi ý tưởng đổi mới, không thể vận hành được nền kinh tế thị trường. Muốn hội nhập, muốn phát triển phải cải tạo hệ thống luật pháp.

Hai bên từng bước tìm hiểu luật lệ của nhau, tìm cách tiến gần nhau và cuối cùng BTA được hoàn tất ký kết và có hiệu lực từ tháng 12/2001.

Một cách tiếp cận mới nhiều "gam màu Mỹ".

Sau khi BTA được ký kết, Chính phủ Việt Nam giao Bộ Tư pháp chủ trì, đã tiến hành tổng rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật, đối chiếu với các cam kết trong BTA, đề xuất và trình Quốc hội, chương trình xây dựng luật, Quốc hội Việt Nam đã xem xét và ban hành Nghị quyết "NQ48/2001-QH10 về sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo lộ trình của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ". Theo đó nhiệm kỳ Quốc hội khóa 2001-2005 của Việt Nam phải xây dựng mới, bổ sung, sửa đổi 137 dự án luật, pháp lệnh và Nghị quyết, trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, KHKT, quốc phòng an ninh, hình sự, dân sự, hành chính…

Theo Nghị quyết nói trên, Quốc hội đã thực hiện một chương trình xây dựng luật mới với một tinh thần mới, một cách tiếp cận mới, đó là:

1. Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi hầu như toàn bộ hệ thống pháp luật, mà trước hết là sửa đổi, làm mới các luật cơ bản như: Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư, Luật Thương mại… theo cách tiếp cận mới hiện đại.

Ví dụ, xin nêu chỉ một vài ví dụ, nếu như trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, nguyên tắc cơ bản đầu tiên mà luật quyết là phải "Tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng…" rồi mãi sau mới nói đến tôn trọng lợi ích cá nhân, thì ngay từ đầu, Bộ Luật Dân sự năm 2005 (sửa đổi theo tinh thần BTA) chốt luôn: Nguyên tắc cơ bản đầu tiên là "Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận… là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật"; và rồi "Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền phù hợp với quy định của pháp luật" (Bộ Luật Dân sự); rồi "Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế" (Luật Thương mại); và "Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành nghề mà luật này không cấm" (Luật Đầu tư).

Từ đây, các luật lệ của Việt Nam được thiết kế xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do của dân, và đó là những điều cốt lõi của một nền kinh tế thị trường hiện đại, và đó cũng là những "gam màu rất Mỹ" mà trước đây chưa có.

Và cũng từ đây, hệ thống luật lệ Việt Nam đã giảm hẳn những quy định siêu hình, lý thuyết, áp đặt chung chung, thay vào đó là những quy định rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực thi, dễ áp dụng cho một nền kinh tế thị trường. Quốc hội cũng chỉ được "bấm nút" thông qua khi dự thảo luật đã được dân, được doanh nghiệp liên quan góp ý.

2. Đã chuyển các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế thành những ngành kinh tế, để kinh doanh, để phát triển.

Trước BTA, các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, bỏa hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông chỉ là những lĩnh vực dịch vụ, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng do đó, không có luật pháp riêng điều tiết các hoạt động này.

Sau BTA, trên cơ sở nhận thức mới về ý nghĩa của các ngành dịch vụ trong quá trình phát triển kinh tế, và theo những cam kết đã ghi vào BTA, Việt Nam phải mở cửa các ngành dịch vụ, phải thiết kế luật pháp chuyên ngành để điều tiết các hoạt động ở đây.

Một loạt các luật chuyên ngành đã ra đời, tạo hành lang pháp lý cho dân tự do kinh doanh như Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật vận tải hàng không, đường biển, hàng không.v.v… và các ngành kinh doanh dịch vụ đang phát triển nhanh chóng, đang chiếm vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính, du lịch, vận tải đường bộ, vận tải đường không .v.v...

3. Tạo điều kiện để hình thành đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đông đảo. Tấm gương thành đạt của doanh nghiệp, doanh nhân Hoa Kỳ, cùng với những quy định, quy chế trong các văn bản pháp luật được xây dựng và sửa đổi sau BTA như: Đảm bảo quyền tự do kinh doanh, người kinh doanh giỏi được xã hội tôn vinh và khuyến khích, thị trường trong nước mở cửa, thị trường nước ngoài thông thương… hàng loạt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đua nhau ra đời; bươn chải và trường thành. Những quy định của BTA và luật pháp đòi phải bình đẳng, đòi hoạt động phải minh bạch công khai buộc các doanh nghiệp Nhà nước cũng phải thay đổi cách làm ăn để cùng phát triển.

Thêm vào đó, một bộ phận không nhỏ, nhất là các doanh nhân trẻ có ý hướng về thị trường Mỹ, muốn học hỏi cách kinh doanh, cách quản lý của doanh nghiệp, họ muốn tiếp cận các doanh nghiệp Mỹ để học cách sống với các ý tưởng, cách kết nối với giá trị toàn cầu… Họ cho rằng khi họ chơi được với Mỹ thì họ có thể chơi được với bất kỳ ai. Đất nước sẽ có cơ hội phát triển khi có đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân trưởng thành lớn mạnh.

*

* *

Những tác động của BTA vào nền kinh tế Việt Nam có thể bàn nhiều, bàn sâu hơn, nhưng có lẽ sắp tới đây, TPP còn tác động sâu hơn nữa, còn nhiều chuyện phải bàn thêm hơn nữa.

 

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website