nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Kỷ niệm về trường TÂN DÂN Nam Đàn 1947 - 1955

Trần Thanh[1]

Cựu học sinh trường Tân Dân Nam Đàn

Nguyễn Đình Lương

Cựu học sinh trường cấp II Nam Đàn

 

I. Sự hình thành trường TÂN DÂN Nam Đàn

Trường TÂN DÂN Nam Đàn nguyên là một bộ phận của trường Trung học TÂN DÂN ở Vinh do Đảng Dân chủ Việt Nam Nghệ An mà đại diện là vụ Phó Bảng Nguyễn Trung Khiêm, thành lập năm 1946.

Cụ Nguyễn Trung Khiêm là một nhân sĩ yêu nước, đậu cử nhân Hán học, làm Bí thư Ban chấp hành Đảng bộ Dân chủ Nghệ An. Cụ đề xuất tổ chức một trường tư thục lấy tên là trường tư thục TÂN DÂN để giải quyết chỗ học cho học sinh tốt nghiệp tiểu học của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trường quốc lập ở Vinh lúc đó chiêu sinh hạn chế vì không đủ điều kiện.

Trường trung học TÂN DÂN Vinh ra đời niên học 1946 - 1947 và ông Bùi Văn Các, kỹ sư, Giám đốc nhà máy Tràng Thi được cử làm hiệu trưởng.

Ngày 19/8/1946 toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cả nước có chiến tranh. Riêng vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh giặc không vào được. Đây là hậu phương, gọi là vùng tự do.

Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ở hậu phương và đề phòng chiến tranh mở rộng, Thành phố Vinh có lệnh tiêu thổ kháng chiến, các cơ quan Nhà nước sơ tán về các địa phương.

Trường TÂN DÂN Vinh phải sơ tán, một bộ phân chuyển về Quỳnh Lưu, một bộ phận chuyển về Nam Đàn.

Bộ phận Nan Đàn tồn tại và phát triển thành trường TÂN DÂN Nam Đàn sau này.

Trường TÂN DÂN Nam Đàn hồi đầu có 4 lớp:

Đệ nhất (1 e année), Đệ nhị (2 e année), Đệ tam (3 e année), Đệ tứ (4 e année) tương đương cấp II bây giờ, nhưng nội dung học cao hơn. Học xong, tốt nghiệp thành chung, sau Đệ tứ là giỏi cả Anh văn, cả Pháp văn, có thể đi làm tốt và học thêm vài năm nữa là vào đại học.



[1] Trn Thanh:

Đại tá Quân chủng Phòng không không quân

- Trưởng Ban liên lạc Trường Tân Dân Nam Đàn

- Phó ban liên lạc Hội đồng hương Nghệ An ở Hà Nội

- Nguyên trưởng Ban liên lạc đồng hương Nam Đàn ở Hà Nội.

Trường TÂN DÂN Nam Đàn khai giảng khóa đầu tiên là niên khóa 1947-1948, mới có 3 lớp, một đệ nhị, hai lớp đệ nhất tương đương lớp 5, lớp 6 bây giờ.

Niên khóa thứ 2 (1948-1949) trường có 5 lớp, 2 lớp đệ nhất, 2 lớp đệ nhị, một lớp đệ tam. Mỗi lớp có khoảng 30-40 học sinh. Niên học 1949-1950, trường có 7 lớp, khoảng 350 học sinh: 1 đệ tứ, 2 đệ tam, 2 đệ nhất và 2 lớp dự bị.

Trường TÂN DÂN Nam Đàn do Đảng ủy Dân chủ huyện Nam Đàn tổ chức và quản lý. Thầy Vương Từ Huề, tú tài triết học, được cử làm Hiệu trưởng và thầy Nguyễn Bá Mạo, Phó bí thư Huyện ủy Dân chủ Nam Đàn được giao công tác tổ chức và quan hệ.

Trường ban đầu có khoảng trên một chục giáo viên và sau có thêm một số sinh viên lớp Toán đại cương của Giáo sư Nguyễn Thực Hào mở ở nhà ông Cừ Toán, xóm Xuân Lâm tham gia giảng dạy.

Học sinh đa số là con em Nam Đàn, gồm các xã Hùng Tiến, Xuân Hồ, Xuân Liệu, Xuân Lâm, Nam Hòa, Nam Cát, Nam Giang, Nam Liên.v.v

Có một số học sinh là con em cán bộ nhà nước từ Vinh sơ tán lên Nam Đàn và một số con em miền Nam vượt tuyến ra Bắc học.

Sau khi hòa bình lập lại, từ niên khóa 1954-1955, trường chuyển sang hệ quốc lập và trở thành trường cấp II cho cả huyện Nam Đàn: Trường cấp II Nam Đàn.

Thầy Nguyễn Hữu Du rồi thầy Tạ Quang Điển được cử làm hiệu trưởng.

Sau vườn Đình Nhân Hậu, xây thêm mấy dãy nhà tranh tre, nứa lá để đủ các lớp học.

II. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa - các yếu tố tạo nên sự phát triển của trường TÂN DÂN Nam Đàn

1. Trường TÂN DÂN Nam Đàn đặt ở trường Sơ đẳng Pháp-Việt và Đình Nhân Hậu của làng Thịnh Lạc, Tổng Xuân Liệu xưa.

Trong gần 300 năm từ thời Hậu Lê đến thời Tự Đức, nhà Nguyễn, làng Thịnh Lạc là nơi đóng lị sở của phủ Anh Đô. Phủ Anh Đô thời đó gồm Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Anh Sơn ngày nay. Ở đây vốn đã có trường quốc lập của Phủ, tuyển sinh cả Phủ đến học.

Trường Sơ đẳng Pháp-Việt thành lập vào thập kỷ 30 thế kỷ 20, sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, do chính quyền chế độ cũ xây. Trường có 3 lớp tương đương lớp 1, 2, 3 bây giờ, gọi là các lớp sơ đẳng tiểu học.

Trường là một ngôi nhà gạch cao, rộng, lợp bằng ngói tây, gồm 3 phòng học, có đủ bàn ghế, bảng đen. Trường ở cạnh Đình Nhân Hậu, qua một ngôi chùa.

Đình Nhân Hậu được xây dựng từ đầu thế kỷ 20, một ngôi đình to, đẹp nổi tiếng, mái ngói cong, trên có hổ chầu, rồng lượn. Đình lợp ngõi âm dương, rất mát, tường xây bằng đá ong. Hai hàng cột to cao. Cột đình phải hai thanh niên giang tay ôm. Chân cột là những tảng đá xanh gọt đẽo đẹp. Xà ngang, xà dọc to có chạm trổ. Đặc biệt là những bộ kèo chạm khắc tinh xảo. Đình có 3 gian, mỗi gian phải có đến trên trăm mét vuông, gian giữa là bệ thờ bằng đá chiếm gần nửa.

Đình Nhân Hậu là một công trình kiến trúc nghệ thuật, là tài sản, là báu vật, là niềm tự hào của làng Nhân Hậu.

Khi trường TÂN DÂN về, Đình Nhân Hậu được ngăn bằng phên nứa, thành nhiều lớp học ấm cúng.

Trường Sơ đẳng Pháp-Việt và Đình Nhân Hậu tọa trên một ngọn đồi Bình Sơn (Rú bằng). Cả xóm Bình Sơn là một núi đá ong tốt nổi tiếng, dân ở đây xây nhà chủ yếu bằng đá ong. Tọa lạc ở đây, trường TÂN DÂN Nam Đàn ở cái thế yên tĩnh, an toàn, cao ráo, không sợ mưa bão, lụt lội. Xung quanh có sân cỏ, vườn rộng hàng chục ha, làm nơi vui chơi thể dục, thể thao, luyện tập quân sự.

2. Trường TÂN DÂN Nam Đàn đóng trên đất Nam Đàn, mảnh đất địa linh nhân kiệt.

Từ Đình Nhân Hậu phóng tầm mắt về phía tây là dãy núi Thiên Nhân trùng trùng điệp điệp, nhìn lên phía bắc là dãy núi Đại Huệ sừng sững hiên ngang. Dọc theo biên giới huyện Nam Đàn, dãy Đại Huệ chạy suốt từ Tây sang Đông, dãy Thiên Nhẫn chạy suốt từ Bắc xuống Nam như những thành lũy thiên nhiên ngàn đời bền vững ôm lấy đất Nam Đàn, tạo cho đất Nam Đàn có một vị thế như một pháo đài vĩnh cửu.

Trên các dãy núi thiêng đó trầm giữ bao huyền thoại, bao chiến tích của ông cha trong quá trình dựng nước và giữ nước.

Nào huyền thoại:    " Đụn sơn phân giới,

                                Bò đái thất thanh,

                                Thủy đáo Lam thành

                                Nam Đàn sinh thánh"

Có chuyện Rú Đụn nứt toác làm đôi thật. Khe Bò đái đối diện Đụn Sơn bên kia sông Lam mất hẳn tiếng kêu ồ ồ thật, nước sông Lam chảy vào chân rú Thành thật và Nam Đàn sinh ra một vị cứu tinh cho dân tộc Việt Nam.

Nào là thành Vạn An, nơi Mai Thúc Loan và quân sĩ xây lên để làm nơi luyện binh đánh quân nhà Đường thế kỷ thứ 8. Nào là thành Lục Niên, nơi đã là hành dinh của Bình Định Vương Lê Lợi chuẩn bị quân tướng đánh quân nhà Minh thế kỷ thứ 15. Nào là chùa Tán sơn trên Rú Tán thiêng nổi tiếng, nơi năm 1788, trên đường ra Bắc dẹp quân nhà Thanh, Quang Trung-Nguyễn Huệ dừng lại làm lễ tế thần, cầu momg thần linh phù hộ cho binh cường tướng mạnh, cho chiến thắng quân xâm lăng, nơi đầu thế kỷ 20 các sĩ phu yêu nước phong trào Phan Bội Châu, lấy làm nơi tụ họp, bàn chính sự.

Trước mặt Đình Nhân Hậu, dãy núi Thiên Nhẫn ngả bóng vào dòng sông Lam xanh trong tươi mát. Dòng sông Lam lượn quanh đất Nam Đàn như một giải lụa đào, đem phù sa về bồi đắp, tạo ra những nương dâu xanh ngắt, những bãi mía bạt ngàn, để rồi Nam Đàn có những đặc sản nổi tiếng "quê ta ngọt mía Nam Đàn"

Núi, sông, hào khí Nam Đàn đã sản sinh, nuôi dưỡng bao anh hùng hào kiệt. Nào Mai Thúc Loan, nào Phan Bội Châu, nào Hồ Chí Minh, sản sinh bao người học rộng tài cao, nào Nguyễn Thúc Hào, nào Tạ Quang Bửu

3. Trường TÂN DÂN Nam Đàn đóng trên một vùng đất văn vật nổi tiếng

Người Nam Đàn, thời nào cũng vậy, nổi tiếng ham học. Dù giàu, dù nghèo, dù đói, dù no, điều quan tâm trước hết, ham muốn trước hết là chuyện học hành của con cái. Tuổi trẻ ở xứ này ham nhất là ham học.

Trong lịch sử Việt nam, kể từ khi có chế độ khoa cử, Nam Đàn bao giờ cũng có nhiều người đỗ cao.

Trường TÂN DÂN về Nam Đàn, lãnh đạo và nhân dân Nam Đàn vui mừng chào đón, coi đây là một cơ hội cho con cháu học hành, là một cơ hội cho dân tình mở mang kiến thức.

Chính quyền địa phương huyện và xã tạo mọi điều kiện, giải quyết mọi yêu cầu để trường sớm đi vào ổn định, để tiếp tục dạy và học. Chủ tịch xã Hùng Tiến khi đó là ông Nguyễn Chín (cha thầy Thục bây giờ) huy động dân làng, cùng với thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn lên rừng chặt tre nứa về đan phên thưng Đình Nhân Hậu làm phòng học, làm bàn, ghế. Ông Lê Văn thông, chủ tịch xã Vân Diên cho phép trường khai thác tre nứa ở Rú Đụn

Khi chiến tranh ác liệt, máy bay địch vào bắn phá luôn, xã huy động dân quan đào hào trú ẩn quanh trường

Phần lớn giáo viên và học sinh từ xa đến đều được dân mời về làm gia sư, giành cho một nơi tốt nhất trong nhà để học tập, nghiên cứu, nuôi cơm ngày 2 bữa đàng hoàng không lấy tiền, chỉ mong là kèm cặp cho con cái học thêm.

Có thầy có gia đình đi theo, như thầy Nguyễn Văn Trương, có bố và vợ con, bà con xóm Đồng Lâm góp tre nứa, xây dựng cho một mái nhà nhỏ đơn sơ, phía trong đê sông Lam, xã cho mượn một vạt đất để trồng rau, trồng bí, nuôi mấy con gà

4. Trường TÂN DÂN Nam Đàn, từ đầu, may mắn có đội ngũ "thầy ra thầy". Ngoài những giáo viên của trường, còn có các thầy là sinh viên lớp Toàn Đại cương của Giáo sư Nguyễn Thực Hào.

Đó là đội ngũ giáo viên trẻ, giỏi, học rộng, biết nhiều, nhiệt tình. Các thầy vừa truyền cho học sinh kiến thức sâu rộng, vừa truyền cảm cho học sinh tinh thần hiếu học, vừa giáo dục cho học sinh đạo đức làm người.

Sau ngày hết chiến tranh chống Pháp, hòa bình lập lại, hầu hết các thầy ra Hà Nội học thêm ở trong nước và ở nước ngoài rồi trở thành những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học, nhà giáo nổi tiếng như Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Trương, Đinh Ngọc Lân, Lê Hải Châu, Nguyễn Hoàng Phương, Đinh Phượng Sồ.v.v...

III. Thầy và trò, dạy và học ở trường TÂN DÂN Nam Đàn.

Thầy của trường TÂN DÂN Nam Đàn lúc đầu có khoảng trên 10 người. Đó là các thầy: Vương Tứ Huề, Nguyễn Bá Mạo, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Điền, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Trần Huân, Nguyễn Hữu Du, Nguyễn Vĩnh Tơn, Phan Đình Sung, Tạ Quang Điển, Lê Trọng Thanh, Nguyễn Tử Nhương, Phan Đăng Dương...

Những năm sau còn tiếp tục bổ sung.

Các thầy là sinh viên lớp Toàn đại cương tham gia dạy ở TÂN DÂN Nam Đàn có Nguyễn Đình Tứ, Lê Hải Châu, Đinh Phượng Sồ, Đinh Ngọc Lân, Lê Nguyên Sóc, Vũ Ngọc Mai, Nguyễn Mậu Tùng, Nguyễn Hoàng Phương, Kỳ Quang Lập, Thầy Nam

Nói chung các thầy ở tuổi thanh niên, chủ yếu là dưới 25, cao là 30, là giáo viên trẻ, đến từ nhiều miền của Tổ quốc, Bắc, Trung, Nam có cả. Có học vấn nghiêm túc.

Thời đó là thời chiến, cách mạng mới thành công. Mọi việc chỉ mới bắt đầu, sinh hoạt của nhà trường chủ yếu dựa vào dân.

Thầy giáo chưa có lương bổng gì cả, chỉ có phụ cấp do địa phương đài thọ. Thường mỗi thầy, mỗi tháng được mười mấy cân gạo. Thầy nào có gia đình thì được cấp thêm, khi không có gạo thì lấy ngô, khoai.

Những thầy ở với gia đình, ở riêng như thầy Trương thì xin thêm mảnh đất trồng rau, đậu, nuôi thêm con gà. Hàng ngày cơm rau dưa, cơm thịt là chuyện hiếm có. Ngày mùa có lúa mới, rau, đậu bà con đem đến biếu, thể hiện tinh thần "tôn sư trọng đạo". Những ngày chủ nhật rỗi rãi, học sinh đến chơi rồi cuốc đất, gánh nước, bổ củi giúp thầy cô.

Phần lớn các thầy còn son trẻ, được các gia đình mời về làm gia sư, ăn ở không mất tiền, các khoản phụ cấp thầy để làm từ thiện giúp học sinh nghèo khó khăn. Cuộc sống hàng ngày của các thầy giản đơn như những nông dân trong làng. Còn học sinh ngày đi làm đồng, cày, bừa, cỏ, củi, chiều về đi học, tối học bài.

Hồi đó chưa ai có xe đạp, các thầy cũng không có, học sinh từ các vùng Xuân Hồ, Xuân Liệu, Chợ Sáo đều đi bộ đến trường. Cũng chưa ai có đồng hồ. Giọt nắng mái nhà hoặc cây cau chiếu xuống sân hè là đồng hồ, là giờ dạy, giờ học, thế mà không mấy ai trễ giờ.

Các phòng học ở trường Sơ đẳng Pháp-Việt thì có bàn ghế gỗ, còn ở Đình Nhân Hậu thì bàn học bằng tre nứa, chân bàn là tre, mặt bàn là nứa chẻ ghép lại.

Khi chiến tranh ác liệt, máy bay giặc vào nhiều, phải học ban đêm, dùng đèn abarua, ta gọi là "ba gà", để phía trên trời không thấy ánh sáng, bấc cháy ngầm trong đìa dầu lạc, dầu hạt bưởi, bảng đen nhờ nhọ nồi và lá khoai lang, phấn viết bằng đất sét. Giấy viết là giấy nứa và nhiều khi giấy nứa cũng không có. Không có thì lấy giấy đã dùng rồi, ngâm nước vôi cho mất chữ, đem phơi khô rồi dùng lại.

Không thư viện, không sách giáo khoa, không học cụ, không tài liệu. Các thầy tự nghiên cứu, biên soạn, phải nhớ lại những điều hay nhất đã học để truyền đạt cho học sinh. Học sinh trường TÂN DÂN Nam Đàn còn nhớ chuyện thầy Nguyễn Văn Trương thức bao nhiêu đêm bên ngọn đèn dầu để biên soạn được một tập giáo trình toán, in li tô, phát cho học sinh. Quý lắm, quý đến mức một số học sinh sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn giữ để làm kỷ niệm.

Hồi đó thầy Nhương dạy Anh văn, thầy Dương dạy Pháp văn. giờ học tiến Anh chỉ nói tiếng Anh, giờ học tiếng Pháp chỉ nói tiếng Pháp. Khó nhất là phát âm và luyện giọng, các thầy gò cho khi nào nói chuẩn mới thôi, ở lớp chưa được về nhà phải tự luyện tập. Nhiều người sau khi tốt nghiệp trường TÂN DÂN Nam Đàn là sử dụng ngoại ngữ tốt trong giao dịch cũng như nghiên cứu.

Thầy Trương như một con dao pha dạy cả toán, dạy cả Kiều, cả văn học Pháp, ai được nghe thầy giảng thì nhớ mãi không quên.

Học sinh ham học, ham hiều biết, dù cho cuộc sống còn khó khăn, học sinh bao giờ cũng thuộc bài, bao giờ cũng làm đầy đủ bài tập.

Học sinh chăm học đến mức mà sau này thầy Trương nhớ lại và nhận xét "chắc chắn là không có một dân tộc nào hiếu học như dân tộc Việt Nam nói chung, Nam Đàn nói riêng".

Không thể quên được chuyện thầy Sồ dạy môn vạn vật đưa học lên tận Rú Tán, Rú Anh, nhặt đá, phân tích cho trò nhận biết thế nào là đá thạch anh, thế nào là đá cẩm thạch, đá nào là đá gan trâu, đá nào là đá ong.v.v

Không thể nào quên được những đêm trăng thanh gió mát, ngồi trước sân đình, thầy Huề kể chuyện cụ Phan Bội Châu đi hát phường Vải, cụ Phan đối đáp hay thế nào.

Không thể quên được, những chiều hè gió Lào oi bức, thầy Trương kéo cả đám học sinh đi tắm sông, ngâm trong dòng nước sông Lam trong xanh mát lạnh, một cảm giác sướng, nhớ suốt đời.

Những đánh giá, nhận xét về thầy và trò trường TÂN DÂN Nam Đàn[1]

Không đủ lời để đánh giá hết được nghĩa tình của thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn, sau đây chỉ ghi lại một vài nét tiêu biểu:

Thầy Nguyễn Văn Trương:

"Cuộc sống của tôi ở trường TÂN DÂN Nam Đàn gắn liền với cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực dân Pháp. Đây là những năm tháng đẹp nhất đời tôi".

Thầy Nguyễn Tử Nhương: Thầy Nhương quê Hoa Lư, Ninh Bình

"Thời kỳ ở trường TÂN DÂN Nam Đàn là quãng đẹp nhất trong đời giáo viên của tôi. Ở đây giữa Hiệu trưởng và giáo viên bao trùm một không khí bạn bè, tin cậy, cởi mở và quan tâm đến nhau".

"Sống rất vô tư, giữa chúng tôi lúc đó chỉ có một tâm nguyện là tìm cách dạy tốt, nên giữa thầy và trò quan hệ rất thân mật, không cách bức"

Thầy Nguyễn Bá Mạo

"Ở Trường TÂN DÂN Nam Đàn, tôi đã thấy được tình cảm bạn bè, đồng nghiệp gắn bó tốt đẹp, tình nghĩa thầy trò đằm thắm, sâu sắc" về các thầy, thầy Mạo viết: " Họ là những giáo viên trẻ, đến từ nhiều miền của Tổ quốc, có trình độ học vấn nghiêm túc, hăng hái với sự nghiệp trồng người, nhiệt tình với công tác giảng dạy, chân thành cộng tác với các bạn đồng nghiệp trong sự nghiệp chung bất chấp điều kiện vật chất khó khăn trong buổi đầu của cách mạng"

Đại tá Trần Hậu Tuệ, học trò về hưu ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 viết thư thăm thầy Nguyễn Văn Trương, anh viết: "Người học trò của thầy cũng đã vào tuổi 70, dẫu sự nghiệp riêng có thành đạt đến đâu, thì vẫn là học trò của thầy, nên xin thầy cho phép xưng hô "Thầy-con" để biểu thị tình sâu nghĩa nặng với Thầy".



[1] Trích: "Trưởng thành trong kháng chiến"

   NXB: Văn hóa thông tin, Hà Nội 2005.

"Các thầy luôn coi trọng dạy chữ, dạy người, lấy nhân cách để giáo dục nhân cách" " Trong dạy học, thầy rất coi trọng chủ thể của người học, chú ý phát huy tinh thần chủ động, tích cực tư duy sáng tạo của học sinh".

" Dân gian có câu "nhất tự vi sư, bán tự vi sư", chúng con xin thay mặt cả những bạn bè đã "xanh cỏ" cảm ơn sự dìu dắt giúp đỡ của thầy, không tượng đồng, bia đá nhưng hình bóng thầy mãi mãi trong trái tim chúng con".

IV. Các hoạt động tại Trường TÂN DÂN Nam Đàn trong kháng chiến

Về Đảng: Có hai chi bộ Đảng của hai Đảng cùng tồn tại và hoạt động theo tôn chỉ mục đích của mình, cùng là vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

+ Chi bộ Đảng Dân chủ của các thầy giáo do Huyện ủy Dân chủ Nam Đàn quản lý, lãnh đạo. Có một số thầy giáo cũng tham gia Ban chấp hành Huyện ủy Dân chủ.

+ Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương do Huyện ủy Đảng cộng sản Đông Dương Nam Đàn quản lý và lãnh đạo. Năm 1948 chi bộ có 5 đảng viên do đồng chí Nguyễn Bằng Thuận làm bí thư chi bộ.

Đến năm 1949, khi Đảng trở lại hoạt động công khai, Đảng kết nạp thêm đảng viên mới, có cả học sinh lớn tuổi. Đ/c Trần Văn Thận (tức Trần Thanh) được kết nạp dịp này. Sau khi trở thành đảng viên chính thức, đ/c Thanh được bầu vào chi ủy.

Huyện ủy Nam Đàn có tổ chức bồi dưỡng kiến thức đảng viên cho trường TÂN DÂN và trường Nguyễn Công Trứ vào mùa hè năm 1949 tại Trường Cửu.

Mục tiêu đào tạo của trường là chuẩn bị nguồn cán bộ để xây dựng đất nước sau khi đánh đuổi hết giặc nên sự lãnh đạo của Đảng tập trung chủ yếu vào dạy và học.

Do cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt, quân ta càng thắng to trên chiến trường, địch càng tăng cường bắn phá hậu phương, Đảng càng quan tâm lãnh đạo giáo viên và học sinh sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng ra mặt trận, tăng cường luyện quân sự, đào hầm trú ẩn, giữ bí mật quân sự.v.v

Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình qua các phong trào của Hiệu đoàn học sinh.

Hiệu đoàn học sinh

1. Hiệu đoàn học sinh trường TÂN DÂN Nam Đàn thành lập năm 1948, đ/c Trần Văn Thận (tức Trần Thanh) được bầu làm Hiệu đoàn trưởng, và đ/c Hoàng Xuân Bảy, Hiệu đoàn phó. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương, phong trào học sinh trước hết là thi đua học tập tốt, mà kết quả học tập tốt. Các thầy giáo vui lòng và biểu dương.

2. Để phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, trường tổ chức các kỳ rèn luyện quân sự, trường có một giáo viên dạy quân sự, giáo dục tinh thần sẵn sàng ra mặt trận khi Tổ quốc cần. Tinh thần sẵn sàng "xếp bút nghiên lên đường đi chiến đấu" trong học sinh cao lắm.

Ngày 26 tháng 4/1950 Trường Lục quân về mở đợt tuyển quân ở thị trấn Nam Đàn. Thanh niên Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc đi tuyển đông lắm. Thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn đi từ sớm, có mặt đông đủ không thiếu một ai, tuy nhiên những đ/c lớn tuổi, từ 17 tuổi trở lên mới được vào tuyển.

Không may hôm ấy máy bay địch đến bắn phá, làm thị trấn Nam Đàn tan hoang, nhiều người chết và bị thương, trong đó có một học sinh trường TÂN DÂN là anh Mai Đình Thụ học lớp đệ tứ niên.

Tuy vậy, học sinh trường TÂN DÂN Nam Đàn vẫn không sợ, tinh thần sẵn sàng chiến đấu vẫn cao. Ngày 12 tháng 5/1950 lại tiếp tục tuyển quân, anh em lại hăng hái tham gia

3. Để giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, Hiệu doàn trường thường xuyên tổ chức các chuyến tham quan, dã ngoại.

- Các lớp tổ chức đi tham quan Kim Liên, Hoàng Trù, quê nội, quê ngoại Bác Hồ. Hồi đó Kim Liên còn nghèo lắm, toàn nhà tranh, đường đi trong làng là đường đất, mưa xuống là lầy lội. Nơi đây đã sinh ra một anh hùng dân tộc vĩ đại-Hồ Chí Minh. Cũng có lúc gặp được bác Nguyễn Sinh Khiêm và bà Nguyễn Thị Thanh, chị và anh Bác Hồ.

Bà Thanh và ông Khiêm sống đạm bạc lắm. Bà Thanh sống với mảnh vườn với mấy con gà, ông Khiêm sống trong một ngôi nhà cột tre xiêu vẹo, ông thường vắng nhà, đi công việc của cách mạng.

- Có lúc kéo nhau lên Đan Nhiệm thăm quan nhà cụ Phan Bội Châu. Ngôi nhà tranh ba gian lợp lá, phiên nứa, rèm tre, ở phía ngoài đê, lưng ngoảnh ra bờ sông Lam, nhà hướng lên mặt đê, cách đê vài trăm mét.

Thật là cảm động khi biết nơi đây đã sinh ra "vị anh hùng, vị thiên sứ, đã xả thân vì độc lập được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng" (dân số Việt Nam thời đó chỉ khoảng 20 triệu)

- Cũng có chương tình tham quan Rú Đụn

Rú Đụn cao sừng sững, nứt làm đôi, vết nứt to và dài, sâu suốt dọc quả núi. Đúng là "Đụn sơn phân giới", đứng bên này Rú Đụn nhìn sang Chi Cơ, Khe Bò đái còn đó, nhưng đã không còn ồ ồ.

Dưới chân Rú Đụn, mộ bà Mai Thị, mẹ Mai Thúc Loan. Mộ bà Loan lúc đó mới chỉ là mấy hòn đá chồng lên thành "sè sè nắm đất bên đường" .

Đi tiếp một quãng nữa là đến thành Vạn An, nơi Mai Thúc Loan, người anh hùng áo vải, cùng các quân sĩ xây dựng lên luyện tập để đánh đuổi quân nhà Đường thế kỷ thứ 8.

- Thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn cũng đã kéo nhau đi qua đò Vạn Rú tham quan thành Lục Niên (xã Trung Cầu) đó là hành dinh của Bình Định Vương Lê Lợi đầu thế kỷ 15. Nơi đây Lê Lợi đã làm nơi tuyển quân luyện binh, chuẩn bị đánh quân nhà Minh.

- Trên đất Nam Đàn còn nhiều chỗ đẹp, nhiều di tích đi tham quan.

V. Cuộc hội ngộ của thầy trò trường TÂN DÂN sau 40 năm

40 năm, kể từ ngày thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn rời Đình Nhân Hậu, thế giới và đất nước có quá nhiều đổi thay. Cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đã thắng lợi, đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam đã thống nhất đang cùng nhau xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ mong muốn.

Qua bao biến động của xã hội, nào chiến tranh, nào đất nước chia cắt thành hai miền, nào cải cách ruộng đất, nào là giải phòng rồi thống nhất đất nước Thầy và trò trường TÂN DÂN cũng cuốn theo các dòng chảy của thời cuộc.

Đa số họ đã đi ra Hà Nội, tiếp tục học tập trong và ngoài nước, rồi người thì ra chiến trường đánh giặc để rồi đã anh dũng hy sinh vi độc lập tự do của Tổ quốc, hoặc trở thành những chỉ huy trong quân đội ngực lấp lánh sao, người thì phấn đấu học hành tu luyện để trở thành nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, nhà quản lý

Nổi bật thành đạt trong số các thầy có thầy Nguyễn Văn Trương, thầy Nguyễn Đình Tứ, thầy Đinh Ngọc Lân, thầy Lê Hải Châu, thầy Vương Mậu Tùng

Cho dù là hoàn cảnh chiến tranh liên miên, nhưng trong số các học sinh cũng nhiều người đạt tới điểm hạnh phúc của đời mình, trước hết là một loạt các sĩ quan quân đội đã có nhiều chiến công như đại tá Trần Thanh, đại tá Trần Hậu Tuệ, đại tá Nguyễn Đình Lâm, đại tá Nguyễn Danh Sửu.v.v

Do chịu khó học hành, trên con đường khoa học, quản lý, văn học nghệ thuật cũng có những người thành danh như nhà vật lý Đào Vọng Đức, nhà giáo Trần Huệ Chi, nhà văn Ông Văn Tùng, nhà báo Hàm Châu, doanh nhân Nguyễn Sinh Tuấn.v.v

Cũng có người không chịu nổi khó khăn vất vả, không vượt qua được những hoàn cảnh thời cuộc, phải tìm những lối rẽ khác

Dù ai ở đâu, đi đâu, làm gì, trong lòng thầy trò trường TÂN DÂN Nam Đàn luôn nhớ cảnh, nhớ người, nhớ thầy, nhớ bạn.

Đầu năm 1990, thầy Nguyễn Văn Trương và thầy Nguyễn Bá Mạo có sáng kiến tổ chức cuộc gặp mặt thày trò trường Tân Dân. Tất cả hưởng ứng nhiệt liệt. Theo thống kê sơ bộ, thày trò trường Tân Dân Nam Đàn, kể cả một vài khóa sau 55, lúc đó ở Hà Nội có khoảng trên 100 người.

Cuộc họp đầu tiên tổ chức tại Hội trường Quân chủng Phòng không không quân trên đường Bạch Mai (nay là đường Trường Chinh). Cuộc gặp có khoảng 70 - 80 người.

Thầy trò, bạn bè gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, thôi thì kể cho nhau đủ mọi chuyện trên đời, kể cho nhau nghe về những kỷ niệm đời mình với trường Tân Dân, với thầy, với bạn, kể cho nhau nghe về cuộc đời mình, về gia đình và sự nghiệp sau khi rời khỏi trường.

Có một điều rất lạ, mà rất quen, là tất cả, khi học trò gặp lại thầy vẫn xưng "Thầy - con", một dạ thưa, hai dạ thưa. Tuổi đời học trò lúc đó cũng đã trên dưới 70, tuổi thầy trên dưới tám, chín mươi, cho dù đó là ông này bà nọ, đã ở cương vị nọ, cương vị kia, gặp lại thầy vẫn "Thầy - con", vẫn dạ thưa

Đây có phải là cốt cách người xứ Nghệ? là đạo lý "tôn sư trọng đạo", "nhất tự vi sư bán tự vi sư" mà dân tộc Việt Nam mình phải giữ gìn cho bằng được?

Thầy trò ríu rít kể cho nhau nghe những kỷ niệm về các giờ học về cuộc sống đạm bạc lúc đó, về Đình Nhân Hậu hoành tráng và ấm cúng, về sông Lam trong xanh tươi mát, về buổi tuyển quân ở thị trấn Nam Đàn bị máy bay Pháp đến bắn phá .v.v

Hôm ấy, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Mạnh Thường, vốn là học sinh miền Nam vượt tuyến ra học trường Tân Dân đã ghi lại một loạt ảnh thật cảm động và cũng hôm đó, đ/c Trần Thanh được tín nhiệm cử làm Trưởng ban liên lạc trường Tân Dân Nam Đàn ở Hà Nội.

Sau đó, hàng năm có các cuộc tụ họp, có mấy lần tổ chức cho một số thầy trò về thăm lại trường cũ, tổ chức góp tài liệu bổ sung cho thư viện của trường, có đề xuất đổi lại tên trường Tân Dân, Ban liên lạc đã phối hợp với trường THCS Hùng Tiến đề nghị với chính quyền xã và huyện, với Sở Giáo dục Nghệ An cho đổi lại tên trường. Niên học 1999-2000 trường THCS Hùng Tiến đã được đổi tên thành trường Tân Dân.

VI. một số đại diện thầy trò trường tân dân nam đàn đã trưởng thành.

* Các thầy giáo: xem thêm

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website