nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Cuộc chiến bên ngoài bàn đàm phán Việt - Mỹ

Tác giả: Huỳnh Phan

Bài đã được xuất bản.: 28/12/2011 05:00 GMT+7
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-12-27-cuoc-chien-ben-ngoai-ban-dam-phan-viet-my

Joe hoàn toàn có lý: Trên thế giới, những nước có nền kinh tế mở, không có nước nào nghèo. Nhưng suốt 30 năm chiến tranh liên tục, lại bị các nước thù địch bao vây về chính trị, cấm vận về kinh tế, làm sao mà mở cửa được với thế giới bên ngoài cơ chứ. Hơn nữa, anh ta cũng đâu hiểu một thực tế là, ở trong nước lúc đó, chỉ có một chiều suy nghĩ: Đói nghèo là do chiến tranh, ai nói khác là không chấp nhận được. - Trưởng đoàn đàm phán BTA Việt - Mỹ Nguyễn Đình Lương.

Joe Damond đã nhấn mạnh tới ý thứ hai, liên quan đến đề nghị của Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn vào năm 2020, rằng "Việt Nam phải coi việc đóng cửa thị trường chính là nguyên nhân của nghèo đói và chậm phát triển". Ông nghĩ gì lúc đó?

Joe hoàn toàn có lý: Trên thế giới, những nước có nền kinh tế mở, không có nước nào nghèo.

Nhưng anh ta không hiểu hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Suốt 30 năm chiến tranh liên tục, lại bị các nước thù địch bao vây về chính trị, cấm vận về kinh tế, làm sao mà mở cửa được với thế giới bên ngoài cơ chứ.

Hơn nữa, anh ta cũng đâu hiểu câu chuyện bên trong của chúng ta lúc đó. Có một thực tế là, trong nước lúc đó, chỉ có một chiều suy nghĩ: Đói nghèo là do chiến tranh, ai nói khác là không chấp nhận được.

Quả thực là nhận định thẳng thắn của Joe đã khiến chúng tôi dễ dàng ăn nói hơn nhiều.

Joe Damond có nói rằng chỉ đến những ngày đầu năm mới năm 1998, khi nhận được bản thiết kế đàm phán của phía Việt Nam, ông ta mới tin rằng hai bên mới có thể đi chung trên một con đường, trước khi tới đích. Vậy trong suốt hơn 8 tháng đó ông đã làm thế nào để ra được bản đó?

Trong thời gian đó, tôi đi tìm "tầm sư học đạo". Trước tiên, tôi vào Sài Gòn tìm gặp những người trước đây từng học ở Mỹ, hay làm việc cho các tổ chức quốc tế, trong đó có Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh từng làm hai nhiệm kỳ ở IMF. Họ cũng chẳng giúp gì được tôi, vì thời họ học, chủ yếu là những năm '60, là GATT, chứ không phải WTO.

Trưởng đoàn đàm phán BTA Việt - Mỹ Nguyễn Đình Lương và Dan Price. Ảnh Huỳnh Phan.

Thế là tôi lại "khăn gói quả mướp" đi một vòng sang các nước bạn bè, anh em cũ. Trung Quốc là nước tôi nghĩ tới đầu tiên.

Trung Quốc à? Theo Joe Damond giải thích thì BTA họ ký với Mỹ thì còn "xưa hơn cả Diễm", à, cả Nga. Nhưng hình như lúc đó họ đang đàm phán về việc gia nhập WTO với Mỹ?

Đúng vậy. Và họ cũng cử chuyên gia tiếp tôi mấy buổi. Có điều cứ đúng 45 phút người tiếp tôi lại xin ra ngoài. Đến lần thứ ba thì tôi giật mình.

Tại sao? Yếu thận là chuyện bình thường mà.

Thế tại sao cứ đúng 45 phút, đều như vắt chanh, mà không phải 50 phút, hay 40 phút?

À, tôi hiểu. Họ ra thay băng cassette? Hồi đó chưa có máy ghi âm kỹ thuật số?

Chắc cũng là để đảm bảo an toàn cho bản thân, nhỡ sau này có ai đó qui trách nhiệm nọ kia. Nhưng tôi hiểu là người ta đã cẩn trọng như vậy, chắc cũng chả nói gì quan trọng cho mình.

Thế là tôi qua Đông Âu, tìm bạn bè cũ.

Có khả quan hơn không, thưa ông?

Nga thì không biết gì. Ba Lan thì bảo BTA họ vừa ký với Mỹ chẳng qua là cái "passport" để họ xin gia nhập EU và NATO thôi, nên Mỹ đưa cái gì là họ chấp nhận cái đó. Chỉ khi sang Hungary tôi mới thấy được một tia hy vọng.

Bạn tôi khi đó làm Trợ lý Bộ trưởng Bộ Kinh tế, bảo tôi: "Ở bộ tôi có nhiều chuyên gia đàm phán quốc tế giỏi, kể cả trong GATT. Nhưng, khi về nước, ông phải bảo Bộ Thương mại gửi trước cho tôi một bức thư chính thức, xin một khoản tài trợ khoảng vài trăm ngàn đô la. Có số tiền đó tôi sẽ cử chuyên gia sang giúp ông."

Tôi mừng rỡ trở về. Nhưng trong khi tôi đang hối hả lo trình để xin chữ ký, dấu má, thì đùng một cái nghe tin Đảng Dân chủ cầm quyền bị đổ, và Đảng Thanh niên lên thay.

Đúng là cái số ông khổ thật. Rồi sao nữa?

Lúc đó, chính phủ cho phép mời tư vấn Mỹ. Và Ginny Foote đã xuất hiện. Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt đã giới thiệu các giáo sư, chuyên gia sang giảng bài về WTO cho đoàn đàm phán. Và, sau khi nghe họ giảng thử ở các lớp khác nhau, tôi đã chọn Dan Price.

Lý do?

Ông này lúc đó đang làm cho một công ty tư vấn ở Mỹ. Nhưng Dan đã có thời gian dài làm cho Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ, và, quan trọng nhất, đã từng đàm phán BTA với Liên Xô và NAFTA (Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ). Tôi nghĩ ông này có thể có những cái mà chúng tôi cần. Chẳng hạn như phương án xử lý các vấn đề cụ thể với các nước đang phát triển.

Joe Damond nói rằng Dan Price đóng vai trò nhất định trong việc Việt Nam đưa ra bản thiết kế đàm phán điều chỉnh, có đúng không?

Dan Price là nhà tư vấn tốt, có nhiều kinh nghiệm, có kiến thức. Chúng tôi khá thân nhau.

Sau này, khi Dan Price trở thành Phó Cố vấn An ninh Quốc gia trong chính quyền Tổng thống Bush (con), phụ trách mảng kinh tế đối ngoại, chúng tôi vẫn giữ được quan hệ bạn bè. Mỗi lần sang Hà Nội công tác, cứ xong việc công, Dan Price lại hẹn nhau ngồi nhâm nhi vài ly.

À, quay trở lại câu chuyện năm 1997, đối với một số vấn đề cần tham vấn, tôi luôn yêu cầu Dan đưa cho tôi 4-5 phương án, hoặc ít nhất cũng là 2. Còn chọn phương án nào, có điều chỉnh hay không là quyền của đoàn đàm phán Việt Nam. Bởi chúng tôi phải có phương án phù hợp nhất với điều kiện của Việt Nam. Anh nên nhớ rằng chúng tôi còn phải bảo vệ ở trong nước trước khi gửi cho phía Mỹ chứ.

Trong thời gian đó, tôi phân công cho anh em tìm hiểu và thiết kế lại từng mảng, từ sở hữu trí tuệ, đầu tư đến dịch vụ. Chuyên gia từng lĩnh vực thì rà soát trong phương án của Mỹ điều gì cần bỏ, điều gì cần thay, hay bổ sung. Các luật sư thì ngồi với nhau hàng tuần để mổ xẻ từng khái niệm, từng câu chữ, từng đoạn... Về nguyên tắc, chúng tôi đảm bảo rằng chưa hiểu hết nội dung, chưa cam kết.

Và bản thiết kế, khi hoàn thành, so với bản của phía Mỹ đưa ra trước đó 8 tháng đã được thay đổi khá nhiều. Đặc biệt, Chương Thương mại Dịch vụ được viết lại hoàn toàn cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Giám đốc Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý, và 2 vị trưởng đoàn đàm phán BTA Việt - Mỹ Nguyễn Đình Lương và Joe Damond trong cuộc tọa đàm đầu tháng 12. Ảnh Huỳnh Phan.

Và đúng như Joe nói, kể từ tháng 5.1988, cuộc đàm phán đã đi vào thực chất, và chúng tôi chỉ tập trung bàn về lộ trình mở cửa thị trường.

Thảo nào, Joe Damond kể rằng Dan Price chỉ thông báo là bản của phía Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi, chứ không nêu cụ thể sẽ thay đổi thế nào. Ông ta còn nói rằng một điều khác khiến ông ngạc nhiên là làm sao ông Lương có thể thuyết phục được chính phủ và các cơ quan liên quan của Việt Nam đồng ý với bản thiết kế đó. Xin ông giải thích rõ chuyện này?

Khi chuẩn bị xong tất cả, chúng tôi trình lên cấp trên một tập tờ trình dài 350 trang, gửi trước cho mỗi người một tập. Khi bắt đầu họp, vị lãnh đạo chủ trì nhắc nhở: "Lưu ý để các đồng chí rút kinh nghiệm, theo thông lệ, trình lên cấp này, mỗi vấn đề chỉ ghi trong một trang hoặc một trang rưỡi. Tờ trình này những 350 trang thì sao xử hết được."

Đúng vậy. Cách đây mấy năm, khi nhóm tư vấn Harvard gửi bản khuyến nghị chính sách đầu tiên lên cho Thủ tướng, họ làm dài lắm, rất cụ thể. Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nghe nói cũng nhận xét rằng dài thế Thủ tướng lấy đâu thời gian mà đọc xuể, chỉ làm độ 6-7 trang là vừa. Thế là, khi trình bản khuyến nghị thứ hai, họ cố gắng cô gọn lại chỉ có mười mấy trang.

Lúc đó, tôi nghe cả, và tôi hiểu hết. Nhưng chúng tôi vẫn phải trình dài, vì không trình hết thì nguy hiểm lắm.

À, đó có phải là điều duy nhất hữu ích ông thu nhận được từ chuyến đi Trung Quốc trước đó?

(Cười) Mọi thứ đều hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm, nếu không trình hết để cấp trên hiểu, thì nếu có chuyện gì sau này, đoàn đàm phán chúng tôi sẽ không gánh nổi trách nhiệm.

Xin ông nói rõ ông có gặp khó khăn gì với tờ trình của mình không?

Không dễ dàng tí nào. Người ta phản đối, vì tất cả các hiệp định đầu tư Việt Nam đã ký với nước ngoài, không có một nội dung nào như trong này.

Một đồng nghiệp trong bộ thương mại đã nói với tôi rằng trách nhiệm của những người đi đàm phán là phải thiết kế làm sao cho khung pháp lý không va đập với khung pháp lý hiện hành.

Tôi đã phải nói rằng cái khung pháp lý của chúng ta quá lởm khởm, nên phải cho cái búa đập vỡ nó đi mới mong làm ăn được.

Ý ông nói rằng cho đến khi BTA có hiệu lực, hệ thống luật pháp của Việt Nam rất lạc hậu?

Cũng không hẳn vậy. Tôi thấy Quốc hội Việt Nam cũng chăm chỉ sửa luật đấy chứ. Chỉ có điều, vì không có tiêu chí, nên cách sửa nhiều khi tuỳ hứng, và tuỳ vào ý chí của lãnh đạo.

Nhưng lần này thì khác, bởi luật sẽ được sửa cam kết theo BTA, theo WTO, tức là theo một tiêu chí rõ ràng.

Chúng tôi thuyết phục những người phản đối bằng lập luận sau: Không nước nào có thể phát triển được nếu không xuất khẩu được vào thị trường Mỹ. Ngay cả "ông bạn vàng phương Bắc" của chúng ta muốn thực hiện "bốn hiện đại hoá" thành công cũng phải ký BTA với Mỹ, để hưởng qui chế tối huệ quốc mà thúc đẩy xuất khẩu. Và, Việt Nam, muốn xuất khẩu được phải thiết kế một hệ thống pháp luật để đáp ứng nhu cầu đó. Và để phát triển lâu dài, không nên sửa kiểu cò con, vụn vặt.

Đối với Chương Sở hữu Trí tuệ, có một nhà khoa học nổi tiếng, có chức sắc đàng hoàng, đã phản đối đến cùng. Ông ta cho rằng xưa nay các nước tư bản phát triển được là do đi "ăn cắp" phát minh của người khác, và Việt Nam cam kết vào đây là "tự trói mình", sau này lấy lấy tiền đâu mà mua.

Chúng tôi phải thuyết phục rằng liệu các nhà đầu tư tử tế nào từ Mỹ và các nước phát triển sẽ vào Việt Nam, khi họ không đảm bảo rằng sản phẩm của họ không bị làm nhái, hay không.  Vả lại, với Mỹ sở hữu trí tuệ là lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, đời nào họ chịu buông.

Chẳng hạn, chỉ riêng giá trị thương hiệu của Coca-cola đã gần gấp ba lần GDP của Việt Nam vào thời điểm đó (90 tỷ đô la so với 32 tỷ đô la).

Gần đây, một chuyên gia hàng đầu về đầu tư của Nhật Bản có nhận xét với tôi rằng một trong những lợi thế của Việt Nam so với Trung Quốc, trong con mắt các nhà đầu tư Nhật Bản, là ở Việt Nam chuyện ăn cắp bản quyền trong sản xuất hàng hoá chưa phổ biến, hoặc giả người Việt Nam chưa đủ trình độ ăn cắp như người Trung Quốc.

Hay với Chương Đầu tư, chúng tôi cũng phải thuyết phục rằng mục đích của chúng ta là thu hút đầu tư, và, vì vậy, phải cải thiện môi trường pháp lý.

Hoặc với Chương Mua sắm Chính phủ, trong đó qui định dự án đầu tư của nhà nước từ nửa triệu đô la trở lên là phải đấu thầu, họ phản đối rất mạnh. Họ viện lý do là làm như vậy là tiết lộ bí mật quốc gia. Chúng tôi trả lời rằng trong đó đã loại bỏ hết những dự án liên quan đến an ninh, quốc phòng, rồi, và chẳng qua chỉ là những dự án dân sự như xây dựng nhà máy điện, hay mua xe lửa thôi... Chúng tôi khẳng định rằng chỉ có đấu thầu công khai, thay vì chỉ định thầu, mới hạn chế được tham nhũng.

Nhưng chương này cuối cùng đã bị loại ra. Chúng tôi đã thua, bởi lợi ích của những người chống quá lớn.

Đó là nỗi đau lớn nhất của ông?

Đối với bản hiệp định thì đúng. Nhưng đối với đoàn đàm phán Việt Nam, và cá nhân tôi, nỗi đau lớn nhất lại nằm ở chỗ khác. Tôi sẽ nói sau.

(Còn tiếp...)

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website