nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Tại cuộc tọa đàm về rà soát đối chiếu luật pháp Việt Nam hiện hành với Hiệp định Thương mại ...

THAM LUẬN
CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Tại cuộc tọa đàm về rà soát đối chiếu luật pháp
Việt Nam hiện hành với Hiệp định Thương mại
Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) do Bộ Tư pháp tổ chức
tại khách sạn Công đoàn số 14 Trần Bình Trọng,
Hà Nội ngày 22 và 23/9/2005

- Xin cảm ơn Ban Tổ chức đã cho tôi cơ hội để tham dự cuộc hội thảo giá trị này.

- Tôi thực sự cảm kích trước những hoạt động đầy trách nhiệm, trước lòng kiên nhẫn, đức kiên trì đáng kính nể của các chuyên gia pháp luật độc lập là những thành viên Tổ rà soát, các chuyên gia của dự án START thuộc Bộ Tư pháp trong công cuộc rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, so sánh và đối chiếu với các quy định, các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và các quy định của WTO, giai đoạn I năm 2001 và giai đoạn II hôm nay.

- Tôi hoàn toàn nhất trí với mục đích, yêu cầu, phạm vi rà soát cũng như các đánh giá, nhận xét, đề xuất, kiến nghị mà các vị đã công phu chuẩn bị.

- Với tư cách là người may mắn được tham gia lâu nhất, sâu nhất, trong quá trình chuẩn bị, quá trình xây dựng phương án đàm phán, và quá trình đàm phán BTA, tôi xin phép có một vài comment (bình luận) để các vị tham khảo. Comment mang tính chung chung, không chỉ có phần thương mại.

Comment số 1: Việt Nam đang rà soát luật lệ và đối chiếu với các cam kết trong BTA, vậy BTA là gì? BTA - Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là một sản phẩm đặc thù (nhìn từ nhiều góc độ) của mối quan hệ đặc thù Việt - Mỹ.

Lịch sử quan hệ hai nước để lại quá nhiều vấn đề phải giải quyết. Hoa Kỳ đối xử với Việt Nam không giống với bất kỳ ai. Việt Nam nhìn nhận Hoa Kỳ cũng không giống với bất kỳ một nước nào khác.

Một năm sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao, hai nước quyết định bắt tay vào cuộc đàm phán để bình thường hoá quan hệ kinh tế, thương mại, trong lúc cả thế giới đang bị cuốn hút vào công cuộc toàn cầu hoá kinh tế và tự do thương mại, trong lúc hai cựu thù này chưa hiểu nhau, chưa tin nhau, đặc biệt chưa hiểu nhau về luật lệ, chính sách kinh tế. Trong bối cảnh đó cả hai phía đều có ý muốn đàm phán và ký kết một Hiệp định thật chặt chẽ, thật kín kẽ, kín kẽ đến mức tối đa.

Ngay từ đầu, phía Hoa Kỳ chủ trương đàm phán và ký kết một Hiệp định Comprehensive (tổng thể) có đầy đủ các nội dung cần thiết theo những chuẩn mực của WTO. Việt Nam trước đó đã nộp đơn xin gia nhập WTO, sẵn sàng đàm phán một Hiệp định theo WTO, miễn là các cam kết không làm hại đến lợi ích Việt Nam.

Đúng ra, theo thông lệ, BTA - Hiệp định thương mại song phương chỉ là một khung pháp lý điều tiết hoạt động thương mại giữa hai quốc gia, trong khi đó, BTA Việt Nam - Hoa Kỳ thì lại được nhồi vào đủ thứ. Cụ thể:

Về chương II: Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)

Việt Nam và Hoa Kỳ có thể ký một Hiệp định riêng về sở hữu trí tuệ. Hoa Kỳ đã làm như vậy với Trung Quốc và với một số nước khác. Hoa Kỳ cũng cho rằng tình trạng vi phạm bản quyền, ăn cắp sản phẩm trí tuệ ở Việt Nam cũng còn phổ biến lắm. Hiện luật lệ Việt Nam về lĩnh vực này cũng còn quá sơ sài cho nên tốt nhất là nhồi chương SHTT vào BTA cho chắc ăn. Phía Việt Nam không có lý do gì có sức thuyết phục để chối bỏ yêu cầu đó. Vừa là phải chấp nhận vừa là nhân cơ hội này để cải thiện tình hình trong nước. Không cải thiện tình hình vi phạm sở hữu trí tuệ thì đầu tư nước ngoài không vào, nhất là các lĩnh vực đầu tư công nghệ. Việt Nam cũng cần cơ hội này để củng cố hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước. Không nhận lúc này thì khi vào WTO cũng phải chấp nhận.

Về chương IV: Phát triển quan hệ đầu tư

Trong 15 điều của chương IV chỉ có Điều 11 - “Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại” là liên quan trực tiếp đến WTO, trong Hiệp định TRIMS. Còn lại 14 điều khác, hoặc không liên quan hoặc chỉ liên quan gián tiếp.

Việt Nam và Hoa Kỳ có thể ký với nhau một Hiệp định bảo hộ đầu tư riêng như Việt Nam và Hoa Kỳ đã làm với nhiều nước khác. Nhưng phía Hoa Kỳ cho rằng hiện tại luật pháp về đầu tư của Việt Nam chưa đủ trình độ minh bạch, chi tiết để bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ, do đó họ cũng quyết nhồi cho bằng được chương đầu tư vào BTA.

Về phía Việt Nam, khi quyết định bình thường hoá quan hệ kinh tế thương mại với Hoa Kỳ, Việt Nam quan tâm và hy vọng nhiều vào nguồn đầu tư to lớn từ Hoa Kỳ, do đó Việt Nam chấp nhận, và cũng nhân dịp này Việt Nam sẽ ra tay cải thiện môi trường đầu tư của mình vốn đang có nhiều vấn đề.

Chương V: Tạo thuận lợi cho kinh doanh

Những cam kết trong chương này không hề dính dáng gì đến WTO cả. Đơn giản đó là những vướng mắc mà các nhà doanh nghiệp Hoa Kỳ làm ăn ở Việt Nam đang bị kẹt giữa ma trận các thủ tục hành chính rối rắm ở Việt Nam. Nhân có việc đàm phán BTA, họ yêu cầu các nhà đàm phán Hoa Kỳ phải ra tay tháo gỡ giúp. Về phía Việt Nam, các nhà đàm phán Việt Nam thấy rằng những yêu cầu của họ là chính đáng, không trái với luật. Cho vào đây cũng “không mất gì của bọ”. Mặt khác nếu đưa được vào đây thành một cam kết quốc tế thì sẽ thúc đẩy mạnh hơn quá trình cải cách hành chính vừa mới khởi động.

Còn nhiều vấn đề khác tương tự. Tất cả các tình huống trên tạo ra một BTA đặc thù cho mối quan hệ đặc thù ở một thời điểm đặc thù. Và BTA Việt Nam - Hoa Kỳ không giống với bất kỳ một BTA nào Hoa Kỳ đã ký với các nước khác.

Comment số 2: BTA là WTO mà chưa phải là WTO

- Những cam kết trong BTA được thiết kế trên những nguyên tắc của WTO hoặc trên tinh thần của những nguyên tắc WTO. Có thể nói, đại bộ phận những nguyên tắc cơ bản của WTO đã được thể hiện đúng đắn trong BTA. Thực hiện xong các nghĩa vụ BTA tức là đã thực hiện 65 - 70% nghĩa vụ của một thành viên WTO.

- BTA chưa phải WTO vì còn một loạt nội dung, nghĩa vụ khác nữa của WTO chưa được đề cập trong BTA, và khi đàm phán gia nhập WTO Việt Nam phải tiếp tục xử lý.

Ví dụ, chỉ trong lĩnh vực thương mại thôi cũng còn nhiều hiệp định của WTO mà BTA chưa bàn tới hoặc mới đụng đến sơ sơ như: Hiệp định về trợ cấp, Hiệp định về các biện pháp tự vệ, Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu, Quy tắc xuất xứ, Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi xếp hàng, Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về nông nghiệp… Khi buôn bán với nhau không thể bỏ qua những quy định trong các Hiệp định đó.

- BTA chưa phải là WTO còn thể hiện ở chỗ: các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam còn ở mức tối thiểu. Ví dụ thuế nhập khẩu trong BTA, chỉ mới sờ đến có 3,8% số dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam. Khi vào WTO Việt Nam sẽ phải đàm phán và cam kết toàn bộ biểu thuế. Các lộ trình mở cửa của Việt Nam, trong thương mại hàng hoá, trong dịch vụ còn ở mức thấp và lộ trình dài 2-7,8 năm. Khi đàm phán WTO chắc không có lộ trình dài như vậy.

- Chúng ta đang tích cực đàm phán để gia nhập WTO vào thời gian sớm nhất. Khi gia nhập WTO Việt Nam phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc, vô điều kiện các quy định của WTO và Cơ quan rà soát chính sách của WTO sẽ kiểm tra chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và việc Việt Nam chấp hành luật WTO. Do đó, điều phải làm, đúng ra phải làm từ lâu rồi, là rà soát các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và đối chiếu với các quy định của WTO. Nghĩa là, sau hôm nay, các chuyên gia luật pháp độc lập, cũng như thành viên tổ rà soát, chưa được nghĩ đến chuyện xả hơi.

Comment số 3: Công cuộc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam là một việc khó khăn phức tạp, phải làm thường xuyên và lâu dài.

Tại sao lại khó?

Cuộc tổng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và đối chiếu với những cam kết trong BTA và quy định trong WTO giai đoạn 1 năm 2001 đã giúp cho Việt Nam phát hiện ra nhiều điều quý giá. Đó là hệ thống luật pháp của Việt Nam khác với thế giới. Khác cả về bản chất, cả nội dung, khác về phương pháp xây dựng, cơ cấu hệ thống luật và cả cách thức áp dụng.

Trong lúc luật lệ của thế giới thì chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực thi thì pháp luật Việt Nam được đánh giá là chung chung, không thống nhất, không đồng bộ, không rõ ràng, khó thực thi.

Ví dụ: Luật Thương mại ban hành năm 1997. Chín năm Luật tồn tại mà hình như không có một điều khoản nào đi vào cuộc sống. Vì Luật được xây dựng trên một khái niệm thương mại xa lạ với khái niệm của thế giới.

Ví dụ: Bộ Luật Dân sự ban hành tháng 10 năm 1995 về quyền sở hữu trí tuệ có những 3 chương, 80 điều (745-825) đề cấp đầy đủ hết các lĩnh vực SHTT, (so với TRIPS chỉ thiếu tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá) thế mà không hề bảo vệ được bất kỳ một sản phẩm trí tuệ nào dù nó bị ăn cắp công khai, giữa ban ngày, và mọi người nhìn thấy.

Thật là tuyệt vời khi Quốc hội ta đã và đang điều chỉnh, sửa đổi, và làm mới hệ thống luật Việt Nam.

Nhưng ai dám chắc rằng, sau đợt sửa đổi này, luật lệ Việt Nam sẽ trở thành một hệ thống luật lệ thống nhất, đồng bộ, ổn định như yêu cầu của BTA và WTO?

Ai dám chắc rằng sau đợt bổ sung này, luật lệ Việt Nam sẽ loại bỏ được hết mọi sai sót, khiếm khuyết? Phát hiện sai đã khó, sửa sai lại càng khó hơn rất nhiều. Cuộc đánh vật với các dự thảo Luật Đầu tư chung, Luật Doanh nghiệp thống nhất hay Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại sửa đổi hiện đang diễn ra, nói lên rất nhiều điều. Để thực thi BTA Việt Nam đã làm rất nhiều việc, nhưng cũng còn rất nhiều việc chưa làm, những việc chưa làm là những việc rất khó.

Tại sao phải thường xuyên lâu dài? Vì:

Thứ nhất: cuộc đàm phán gia nhập WTO chưa kết thúc, chưa thấy hết những việc cần làm.

Cách đây khoảng 2 tuần, qua vô tuyến truyền hình Việt Nam, ông Giám đốc công ty Ford Việt Nam phàn nàn rằng, hiện nay, các công ty ô tô Việt Nam được nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc về bán trong nước, trong lúc công ty ô tô nước ngoài không được. Như vậy là không bình đẳng, là phân biệt đối xử. Ông đã đề nghị Việt Nam cho phép công ty ô tô Ford được nhập xe nguyên chiếc. Đòi hỏi của ông Giám đốc Công ty Ford đúng hay sai và Việt Nam có giải quyết không?

- Đòi hỏi của ông Giám đốc chưa giải quyết được, nếu căn cứ lộ trình cam kết trong BTA thì phải từ 9 đến 10 năm sau khi BTA có hiệu lực, các doanh nghiệp liên doanh với Hoa Kỳ mới được nhập khẩu ô tô về bán trong nước. Nhưng, ông Giám đốc Ford sẽ đúng và yêu cầu của ông sẽ được giải quyết sớm nếu như kỳ này trong đàm phán WTO, đoàn đàm phán Việt Nam chịu đầu hàng trước sức ép của hầu hết các nước đòi Việt Nam cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thực hiện quyền kinh doanh và quyền phân phối ngay sau khi gia nhập WTO.

Thứ hai: người Việt Nam chưa dễ vứt bỏ thói quen tùy tiện. Các quan chức Việt Nam không dễ dàng bỏ thói quen coi doanh nghiệp là một đối tượng quản lý chưa coi như một đối tác.

Hôm nay, ở đâu Việt Nam cũng có thể tuyên bố rằng, nguyên tắc công khai minh bạch (Transparency) cơ bản đã phù hợp với yêu cầu của BTA và WTO, khi Nhà nước ta đã ban hành Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23 tháng 3 năm 2004 của Chính phủ về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của Công báo cấp tỉnh, Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05 tháng 5 năm 2005 của Liên bộ Tư pháp – Nội vụ về việc h ướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương,… Nghĩa là các văn bản pháp luật đã được công khai, minh bạch.

Tuy nhiên, trong thực tế bản thân Việt Nam hoàn toàn không thể yên tâm, không dám nói liều rằng nguyên tắc công khai, minh bạch (Transparency) được đảm bảo khi chúng ta nghe Bộ trưởng Bộ Nội vụ báo cáo trước Quốc hội khoá X là: một chiếc tàu nước ngoài muốn vào cảng Việt Nam phải nộp đủ 28 bộ chứng từ khác nhau, không ai giải thích được tại sao lại như vậy; Khi nghe Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo trước Quốc hội khoá X rằng, để thực hiện Luật đất đai hiện có trên 200 văn bản dưới luật có quy định về chế độ quản lý đất đai, chưa tính các quy định về đất đai trong Bộ Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Thuế nông nghiệp. Hơn thế nữa, theo báo Tuổi trẻ ngày 05 tháng 8 năm 2001 thì Viện Kiểm soát Nhân dân Tối cao kiểm tra và phát hiện, chỉ riêng năm 2000, các cơ quan bộ, ngành cấp Trung ương (chưa kể địa phương) đã ban hành 3.376 văn bản pháp luật trái với luật.

Thứ ba: vẫn còn tình trạng không hiểu và có cả sự cố tình không hiểu các luật chơi của thế giới.

1. Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH ngày 25 tháng 5 năm 2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thống nhất quản lý Nhà nước về quy chế đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi trong thương mại quốc tế. Và hôm nay Việt Nam đã có thể tuyên bố với thế giới rằng ở Việt Nam đã có đối xử bình đẳng, không còn phân biệt đối xử nữa.

Thực tế thì sao? Pháp lệnh nói trên đã được thiết kế theo phương pháp trích lục gần như nguyên vẹn các đoạn văn bản liên quan trong BTA, như vậy đầy đủ cả tinh thần lẫn nội dung.

Nhưng lại chưa ra được văn bản hướng dẫn vì rất khó.

- Có Pháp lệnh là quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là nguyên tắc đối xử bình đẳng, phải được quán triệt trong tất cả các văn bản pháp luật chuyên ngành của mọi ngành mọi cấp và thực tế áp dụng nguyên tắc đó.

Nếu không tiếp tục rà soát để thể hiện nguyên tắc MFN và NT trong các văn bản pháp luật chuyên ngành thì pháp lệnh MFN và NT chỉ là giọt dầu mầu xanh nhỏ lên mặt một chậu nước đục, dầu xanh lan tỏa, mặt chậu nước xanh, và chúng ta nói chậu nước đã xanh trong.

Thực tế, trên thị trường Việt Nam, doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh đang chơi 2 sân khác nhau, doanh nghiệp trong nước và ngoài nước vẫn đang chơi mỗi người một sân.

2. Quý vị ai cũng thuộc là nguyên tắc MFN có 3 ngoại lệ, theo BTA và WTO cũng vậy, và chỉ có 3 ngoại lệ thôi, đó là những thuận lợi dành cho nhau.

- Trong liên minh thuế quan.

- Trong khu vực mậu dịch tự do

- Tạo thuận lợi cho giao lưu biên giới

Việt Nam và EU ký Hiệp định dệt may. Việt Nam giảm thuế nhập khẩu rượu và xe máy cho EU. Việc giảm thuế rượu và xe máy này rõ ràng không nằm trong 3 ngoại lệ nói trên. Nếu không nằm trong ngoại lệ thì tự động (automatic) các nước khác đều được hưởng. Thế mà Việt Nam chỉ ra một văn bản áp dụng giảm thuế rượu và xe máy cho EU thôi. Sau đó do Hoa Kỳ và Ốt-xtrây-li-a đấu tranh mạnh quá lại ký thêm một văn bản giảm thuế rượu và xe máy cho Hoa Kỳ và Ốt-xtrây-li-a, còn các nước khác thì Việt Nam không nhắc đến.

Thưa quý vị, tôi muốn kết thúc bài nói của tôi bằng một tâm tư, một đề đạt:

Trong thời đại ngày nay, thời đại công nghệ thông tin, thời đại Internet, thời đại toàn cầu hoá kinh tế, con đường chúng ta có thể chọn để đưa đất nước ta phát triển, để thu hẹp khoảng cách tụt hậu quá xa, kể cả tụt hậu so với cả các nước xung quanh; đó là con đường hội nhập, hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Vào chơi sân chúng ta phải theo luật chơi chung. Luật chơi chung đó sẽ giúp chúng ta trưởng thành, giúp chúng ta phát triển./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website