nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa kỳ (BTA) và tiến trình gia nhập WTO tác động thế nào đến nền kinh tế Việt Nam

Nguyễn Đình Lương

Nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA

Tại: Hội thảo “Kinh tế Việt Nam – Cơ hội và thách thức, hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu” Tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/09/2010 tại Khách sạn MajesTic.

Lâu nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các diễn đàn ở Việt Nam liên tục bàn về tác động của WTO và BTA vào nền kinh tế Việt Nam. Nhưng hình như ý kiến còn khác nhau. Có người như muốn dồn những thành công trong kinh tế nước nhà vào cho WTO và BTA, có người lại muốn trút những khó khăn mà nền kinh tế gặp phải cho hội nhập. Và nói chung chưa "tóm" được những vấn đề cần "tóm" để xử lý. Đó sẽ còn là một đề tài bản thảo lâu lâu.

Phải chăng ta nên nhắc lại, xem lại ta đã cam kết những gì trong BTA và WTO để rồi ta bàn đến tác động của nó?

1. Cam kết quốc tế (BTA và WTO) chỉ là để xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý điều tiết nền kinh tế nước ta và mở cửa thị trường để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Cả hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), cả tiến trình gia nhập WTO đều nhằm giải quyết hai vấn đề, mà nói bằng ngôn ngữ pháp lý là có hai phần cam kết:

+ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp Việt Nam cho khớp với luật lệ thế giới.

+ Mở cửa thị trường, mở cửa nền kinh tế Việt Nam để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Tuy cùng nội dung nhưng phương pháp và mức độ cam kết có khác nhau.

* Về khung pháp lý:

- Khi đàm phán BTA, Việt Nam mới khởi động quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lúc đó Việt Nam còn điều hành nền kinh tế theo cách của mình, không giống ai mà mục tiêu là "xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ".

Đàm phán BTA là thiết kế một khung pháp lý điều tiết mọi hoạt động kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Khung pháp lý này được thiết kế trên những chuẩn mực, quy định của WTO, những chuẩn mực còn xa lạ đối với hệ thống luật pháp XHCN của Việt Nam thời đó. Đặc biệt là các nguyên tắc cơ bản như luật pháp phải công khai, minh bạch, nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nhập khẩu, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài…

Một khung pháp lý như vậy không thể tránh được những sự "va đập" vào khung pháp lý hiện hành lúc đó của Việt Nam mà hơn thế nữa đòi hỏi ta phải gần như "làm mới" hệ thống pháp luật của ta để hệ thống pháp luật ta khớp với luật lệ quốc tế.

Thực hiện cam kết trong BTA, năm 2001, Chính phủ ta đã cho làm một cuộc "tổng rà soát" hệ thống pháp luật, đối chiếu với những quy định của BTA và WTO, thiết kế một chương trình xây dựng luật pháp trình Quốc hội, Quốc hội nhiệm kỳ 2001-2005 đã bổ sung, làm mới gần hết các bộ luật, các luật cơ bản điều tiết kinh tế xã hội nước ta.

- Khác với đàm phán BTA, đàm phán WTO thực hiện theo một tiến trình khác. Lúc này giữa Việt Nam và WTO không đàm phán việc xây dựng khung pháp lý nữa, vì Việt Nam xin gia nhập WTO thì mặc nhiên phải chấp nhận và chấp hành mọi quy định của WTO.

Vấn đề còn lại phải bàn chỉ là: Rà soát lại tất cả các luật lệ của Việt Nam, còn chỗ nào trái với WTO thì "quét" nốt cho sạch sân chơi. Do dó cuộc đàm phán WTO thực chất là một cuộc tổng rà soát trên phạm vi quốc tế, do WTO chủ trì toàn bộ hệ thống luật lệ Việt Nam, từ các văn bản quy phạm pháp luật cho đến tình hình thực thi luật pháp. Trên cơ sở cuộc tổng rà soát này hình thành bản "Các văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam" trong đó ghi rõ Việt Nam cam kết phải bổ sung, điều chỉnh những luật gì và sửa thế nào….

Như vậy, đàm phán BTA và WTO có thể được coi là một quá trình gồm hai giai đoạn Việt Nam từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử để hội nhập vào kinh tế thế giới.

* Về cam kết mở cửa thị trường:

- Việc bổ sung sửa đổi pháp luật, bản thân nó đã là sự mở cửa thị trường, mở cửa nền kinh tế vốn nửa kín nửa hở của ta thời đó.

- Mở cửa thị trường còn cam kết gỡ bỏ hết các hàng rào phi thuế, các biện pháp bảo hộ không hợp lệ và giảm thuế quan, mở cửa thị trường các loại dịch vụ theo lộ trình.

- Về thuế quan, trong BTA ta chỉ mới cam kết giảm thuế hơn 200 dòng thuế, vì khi đó ta chưa cải cách hệ thống thuế của ta, giảm nhiều sẽ ảnh hưởng nguồn thu ngân sách. Trong WTO ta cam kết toàn bộ biểu thuế và giảm thuế nhiều hơn theo một lộ trình như một số nước khác đã cam kết khi họ gia nhập WTO.

- Về thị trường dịch vụ trong WTO ta cam kết nhiều hơn nhưng mức độ mở cửa thì cơ bản giống như BTA.

- Trong BTA, lĩnh vực đầu tư ta cam kết nhiều hơn, rộng hơn và chặt chẽ hơn để thành một khung pháp lý điều tiết lĩnh vực đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong WTO chỉ có các quy định về "Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại".

- Như vậy, cam kết trong BTA và WTO là một lộ trình mở cửa nền kinh tế, mở cửa thị trường Việt Nam trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại và dịch vụ.

Đến hôm nay, thị trường Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường rất mở.

Khi hệ thống pháp luật đã được làm phẳng, khi thị trường trong mước đã mở rộng thì tất cả cái tốt, cái xấu có trên thị trường thế giới đều có thể có mặt tại thị trường Việt Nam. Kinh tế thế giới được mùa thì hoa trái cũng sẽ rơi rụng vào Việt Nam và kinh tế Việt Nam mới có cơ hội tăng trưởng. Kinh tế thế giới khủng hoảng, đổ vỡ thì kinh tế Việt Nam cũng nối gót đi theo.

Sau BTA, WTO kinh tế Việt Nam đã có cơ hội phát triển tốt, nhanh, nhưng khi thế giới gặp cơn khủng hoảng tài chính, kinh tế Việt Nam cũng đã gặp không ít khó khăn. Nhờ sự chèo chống giỏi của Chính phủ, hôm nay tạm coi như ta đã "thoát hiểm".

2. Khung pháp lý, mở cửa thị trường chỉ mới là cái cần có, kinh tế có phát triển hay không, đầu tư có tăng hay không, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trước hết là phải có một chiến lược quốc gia về kinh tế - xã hội.

Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều đã là thành viên WTO. Khung pháp lý của WTO và hệ thống luật pháp của họ đã khớp, thị trường và nền kinh tế của họ cũng đã mở, nhưng không phải kinh tế nước nào cũng phát triển tốt cả. Đó là do những yếu tố nội tại, trước hết là yếu tố thượng tầng, tức là chính sách, chiến lược phát triển của quốc gia.

Kinh tế thế giới hôm nay là kinh tế toàn cầu hoá, một nền kinh tế kết nối, gắn bó với nhau, cạnh tranh nhau, phụ thuộc nhau. Anh nào giỏi, anh nào xác định trúng vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu và tìm được cách kết nối tốt nhất, tìm được điểm kết nối tốt nhất để khai thác lợi thế của mình, thì anh đó có cơ hội bứt phá.

Cái khó là trong bối cảnh toàn cầu hoá như vậy, nền kinh tế của các nước kém phát triển và đang phát triển như Việt Nam, ngoài những sản phẩm có được do đào bới, hái, lượm, thực chất chỉ là một nền kinh tế gia công, lắp ráp, làm thuê, làm đại lý tiêu thụ hàng cho các nước phát triển, các tập đoàn đa quốc gia. Họ có vốn, họ có công nghệ, họ nắm hệ thống sản xuất, họ chi phối màng lưới phân phối toàn cầu, họ nắm được thị trường tiêu thụ, thị hiếu tiêu dùng.

Ta bảo ta giàu tài nguyên, họ không đem tiền, đem công nghệ đến khai thác thì tài nguyên ta mãi nằm dưới đất. Ta bảo ta có lực lượng lao động dồi dào, họ không mang tiền, mang thiết bị máy móc đến tổ chức sản xuất ra hàng hoá thì lao động của ta cũng chỉ ngồi đánh tá lả và uống nước lã.

Sau khi nghiên cứu, khảo sát, tính toán, khu vực nào, nước nào đặt bộ phận gì, xí nghiệp nào có thể sản xuất linh kiện, phụ kiện gì, lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm ở đâu… số lượng, chất lượng, bao bì, mẫu mã, thị trường tiêu thụ… tất tất đều do các ông chủ lớn quyết cả.

Đội ngũ doanh nghiệp của ta đang trưởng thành nhanh chóng và hôm nay đã có đến trên nửa triệu Công ty. Họ đang bươn chải. Hầu hết là những doanh nghiệp nhỏ, phần lớn là rất nhỏ, vốn ít, trình độ quản lý kinh doanh thấp, chưa có khả năng tổ chức sản xuất lớn, chưa có khả năng cạnh tranh thực sự trên thị trường quốc tế. Đại bộ phận trong số họ nếu hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hay dịch vụ thì cố gắng đi tìm các hợp đồng lắp ráp, gia công, chế tác, đại lý bán hàng cho các ông chủ nước ngoài. Họ chỉ mới đủ sức lo cho sự tồn tại của mình sao cho bền vững, đánh vật với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt mà chưa với tới tầm quốc gia, quốc tế để có những chiến lược kết nối trong nền kinh tế toàn cầu hoá. Họ còn phải trông đợi nhiều thứ từ Nhà nước.

Điểm lại xem đầu tư nước ngoài đã vào Việt Nam theo những lộ trình nào:

- Khi Việt Nam mở cửa, luật pháp cho phép, sau khi nghiên cứu khảo sát, các Công ty nước ngoài vào đầu tư xây dựng nhà xưởng (xây đơn giản thôi) đưa linh kiện, phụ tùng từ bên ngoài thuê nhân công rẻ tại chỗ, nhanh chóng lắp ráp những thứ mà thị trường Việt Nam đang khan hiếm, nhu cầu lớn như: xe máy, tủ lạnh, ti vi.v.v… hay liên doanh với Việt Nam tổ chức sản xuất gạch ngói, xi măng, tấm lợp.v.v…

Tất cả là để "phục vụ" Việt Nam. Khi thị trường hàng gia dụng đó đã được đáp ứng tương đối, và người Việt Nam khá giả hơn một tý, họ bắt đầu đưa linh kiện vào lắp ráp những thứ cao cấp hơn để "phục vụ" như: Ti vi tinh thể lỏng màn hình rộng, như tủ lạnh đa chức năng, như máy giặt nhiều tốc độ, ô tô các loại… cao hơn nữa triển khai sản xuất một số phụ kiện, linh kiện để đưa về nước hoặc sang nước khác hoàn chỉnh sản phẩm như đèn hình, linh kiện điện tử.v.v…

- Khi Internet, công nghệ thông tin vào Việt Nam họ đã rất nhanh chóng đáp ứng nhu cầu bằng cách triển khai các đại lý bán hàng, đưa linh kiện vào tổ chức lắp ráp máy tính.

- Khi Việt Nam chuẩn bị mở cửa thị trường với EU và Mỹ, họ cũng đã rất nhanh chóng khảo sát chọn các đối tác gia công hoặc tổ chức Công ty 100% vốn nước ngoài để triển khai nhanh nhất đưa hàng may mặc, giày dép, vào các thị trường rộng lớn Âu, Mỹ…

- Khi luật lệ Việt Nam thông thoáng hơn với việc gia nhập WTO ở Việt Nam hình thành tầng lớp có nhiều tiền hơn, cuộc sống khá giả hơn, họ đầu tư kinh doanh bất động sản, xây dựng các khu căn hộ cao cấp để bán, xây dựng các khu nghỉ dưỡng cao cấp, các Resorts.

- Hiện các nhà đầu tư nước ngoài đang chờ khi Việt Nam có đội ngũ lao động kỹ thuật có chất lượng cao, khi luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện tốt hơn, họ sẽ vào tổ chức gia công nhiều hơn các linh kiện, phụ kiện cho các sản phẩm công nghệ cao hơn. Tập đoàn Intell đang thử sức.

Qua đó ta thấy, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn có bài bản, có khảo sát, nghiên cứu, có lộ trình bước đi thận trọng, khi nhanh, khi chậm tuỳ từng thời điểm, tuỳ từng sản phẩm đầu tư.

Họ nhìn vào thị trường Việt Nam không qua một lăng kính nào, họ thấy rất rõ ở đây có những gì, khai thác được gì, bao nhiêu và bao giờ.

Chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam?

Giá như ở Việt Nam ta cũng có những chiến lược, những lộ trình như thế để dẫn đường cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bước vào, vào đúng lối đi dẫn nền kinh tế nước ta nối tiếp vào chuỗi giá trị đó hình thành trong nền kinh tế thế giới?

Ta cũng đã có đủ loại chiến lược, kế hoạch: 5 năm, 10 năm, 20 năm. Đọc nghe rất hay, rất hoành tráng, nhưng không hiểu tại sao giữa chiến lược và những gì đi vào cuộc sống khác hơi nhiều. Chiến lược của ta chủ yếu thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng và lòng mong muốn.

Trên thế giới, những ý tưởng về chiến lược phát triển thường được bật nẩy từ cái đầu của các nhà kỹ trị, các "đại gia" kinh tế sau đó được nối tiếp suy ngẫm rồi khâu nối lại. ở ta chiến lược kinh tế được vạch ra từ những nhà chính trị có lập trường vững vàng, với sự tham gia của các nhà lý luận kinh tế sắc sảo như những sĩ quan tham mưu cao cấp chưa qua trận mạc. Cây nào thì trái nấy, liệu có nên điều chỉnh lại một tí cách xây dựng chiến lược phát triển của ta?

3. Trong các cam kết quốc tế (BTA và WTO) không có nội dung hướng dẫn các quốc gia cách điều hành quản lý kinh tế.

Các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam là để tìm lợi nhuận, không có lợi nhuận nhiều hoặc lợi nhuận ít hơn những nơi khác họ sẽ không đến Việt Nam.

Các nhà đầu tư nước ngoài (mà cả ở trong nước) cũng có nhiều loại. Có loại lớn, loại vừa, loại bé. Có loại đàng hoàng, làm ăn có bài bản, muốn xây dựng cơ sở lâu dài ở đây, cần môi trường đầu tư công khai, minh bạch để tính toán bài bản. Có loại chỉ vào để "đánh quả", thích chộp dựt, thích môi trường "đục nước béo cò"…

Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mang theo mình đủ loại văn hoá kinh doanh. Có những Công ty vào đầu tư mang theo công nghệ nguồn, công nghệ chuẩn, cũng có anh chở vào đồ cũ tân trang, đồ thải loại, bỏ đi. Có doanh nghiệp trả lương cho công nhân viên Việt Nam 100-150 triệu đồng/ tháng, thứ bảy chủ nhật phải nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động. Cũng có xưởng may, xưởng giày trả cho công nhân trên dưới 1 triệu đồng/ tháng mà bắt làm việc 12-14 tiếng/ ngày, còn bắt làm cả thứ bảy, chủ nhật không lương, thậm chí anh quỵt lương, quỵt đóng tiền bảo hiểm, và đánh đập công nhân. Có những xí nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh luật lao động, luật môi trường, nhưng cũng có anh tính bài vụng trộm đổ nước thải độc hại ra giết chết cả một dòng sông.

Hội nhập là như vậy, mở cửa thị trường là như vậy, cái tốt, cái xấu đều đủ cả, ong bướm, ruồi nhặng đều có thể bay vào cả.

Những cái tốt có thể được nhân lên, mở rộng, và những cái xấu có thể được hạn chế nếu như ông chủ nhà khôn ngoan, giỏi giang, làm ăn có bài bản.

Bà Verginia Foote, Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt, người luôn luôn trăn trở và đã có nhiều đóng góp vào quá trình bình thường hoá quan hệ chính trị và kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, người đã lăn lộn với thị trường Việt Nam hơn 20 năm nay đã phải thốt lên rằng: "Cách làm ăn của Việt Nam không giống ai cả".

Thế giới quản lý xã hội và điều hành nền kinh tế theo pháp luật, mọi thành viên trong xã hội sống và làm việc theo pháp luật. Các doanh nghiệp cứ theo đúng pháp luật mà kinh doanh, các cơ quan quản lý cứ theo đúng pháp luật mà giám sát, kiểm tra, xử lý sai phạm.

ở Việt Nam luật lệ có đủ cả, nhưng ít ai quan tâm, chỉ khi nào rơi vào lao lý mới đi tìm luật. ở Việt Nam ta chủ yếu làm theo phong trào. Lúc nào cũng thấy phát động phong trào thi đua lập thành tích chào mừng sự kiện này, sự kiện nọ. Phong trào hôm nay đè lên phong trào hôm qua, phong trào dài đè lên phong trào ngắn, rồi không biết làm gì nữa, đánh trống xong vứt luôn dùi. Không quan tâm đến hiệu quả, chỉ lo đếm thành tích. Anh nào cũng thích đầu tư phát triển nhanh, thì rồi dẫm đạp lên nhau, dự án đầu tư nào đến cũng hoan nghênh, xấu tốt cũng nhận, nhiều khi chấp nhận với những điều kiện bất lợi, những dự án không tính khả thi.

Sau khi phân cấp, sự chỉ đạo, hướng dẫn từ trên xuống ít khi có hoặc chung chung, cơ sở thì không đầy đủ thông tin, thường là cứ đưa ra bàn tập thể, đã có đa số phiếu là quyết.

Đó là chưa kể đến phong trào bán công khai, đua nhau tham nhũng, đua nhau đẻ ra những thủ tục hành chính khó hiểu trong các cơ quan Nhà nước trả lương, làm sai lệch, méo mó hết những định hướng tốt. Cách làm ăn theo phong trào, kiểu đánh trống bỏ dùi, đồng tiền tham nhũng chi phối… đã đẩy nền kinh tế ta nhiều lần phải trả giá (nhiều lần rồi, giá khá đắt).

Mới đây nhất là cuộc đổ vỡ của tập đoàn Vinashin, đi vay nước ngoài cả tỉ đô la về đổ xuống sông xuống biển. Hô biến đến 86 ngàn tỉ đồng mà mười một đoàn thanh tra đến vẫn khen hoạt động tốt. Chuyện thật như bịa. Có thêm vài ba Vinashin nữa thì đất nước ta còn gì? Công ty Vedan 14 năm xả thải độc hại làm chết cả một dòng sông mà không ai để ý đến, cho đến lúc người dân trên bờ không sống được nữa, báo chí mới vào cuộc. Với cách quản lý và làm ăn kiểu đó đang làm cho các nhà đầu tư chân chính e ngại. Nếu không thay đổi cách làm ăn ta còn tiếp tục trả giá.

Dẹp bớt các phong trào đi, dẹp bớt các cuộc chạy đua theo thành tích đi. Dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ tìm cách làm ăn khác, làm ăn theo đúng luật lệ, tránh cho đất nước sự tụt hậu xa hơn, tránh cho dân tộc khỏi tiếp tục bị tổn thưởng bởi sự thua kém các dân tộc khác.

Trong lúc ta khẳng định những thành tựu trong công cuộc phát triển kinh tế nói chung, trong đầu tư nói riêng vài thập kỷ qua là to lớn, ta không tự mãn thành tích, việc nhận diện những bất cập, những điều chưa được để rồi ta làm tốt hơn, cũng là một việc nên bàn thảo./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website