nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Chương I - Phần I

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM - HOA KỲ

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
VÀ NHỮNG CON SỐ


NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn đàm phán
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Số vòng đàm phán


Vòng đàm phán

Thời gian

Địa điểm

1

21/9 - 29/9/1996

Hà Nội

2

09/02 - 11/12/1996

Hà Nội

3

12/4 - 17/4/1997

Hà Nội

4

6/10 - 11/10/1997

Washington

5

16/5 - 25/5/1998

Washington

6

12/9 - 22/9/1998

Hà Nội

7

15/3 - 19 /3/1999

Hà Nội

8

14/6 - 18/6/1999

Washington

9

23/7 - 25/7/1999

Hà Nội
(gặp cấp Bộ trưởng)

10

28/8 - 2/9/1999

Washington

11

03/7 - 13/7/2000

Washington
(kết thúc và ký kết

Thời gian đàm phán: 5 năm
- Tháng 10 năm 1995, hai bên thảo thuận chuẩn bị đàm phán. Trong hai năm 1995 và 1996, hai bên gặp nhau 3 lần để tìm hiểu, thu thập thông tin, trong đó có việc Việt Nam trả lời Mỹ hàng ngàn câu hỏi về luật lệ, cơ chế, chính sách thương mại và đầu tư.
- Tháng 9 năm 1996: bắt đầu đàm phán chính thức.
- Khi thỏa thuận xong nội dung, Hiệp định được ấn định ký lúc 14 giờ ngày 13 tháng 7 năm 2000 tại Washington, nhưng do có trục trặc kỹ thuật nên Hiệp định được ký vào lúc 14 giờ ngày 14 tháng 7 năm 2000.
Tham gia của phía Việt Nam
- Tham gia trực tiếp chuẩn bị phương án đàm phán gồm các bộ, ngành sau đây (mỗi bộ, ngành có một nhóm chuyên gia): Văn phòng chính phủ, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Văn hóa thông tin, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Xây dựng, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản, Bộ Giao thông vận tải, Ngân hàng Nhà Nước, Tổng cục Bưu điện, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Du lịch…
Phân công nhiệm vụ
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm chương đầu tư.
- Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Văn hóa thông tin chịu trách nhiệm chương sở hữu trí tuệ.
- Các bộ ngành hữu quan chịu trách nhiệm phần cam kết liên quan đến bộ ngành mình.
- Bộ Thương mại chịu trách nhiệm các phần còn lại và tổng hợp báo cáo, xin chỉ đạo của các cấp lãnh đạo./.

 

 

GIỚI THIỆU TÓM TẮT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
(Tài liệu phát tại các buổi tập huấn về Hiệp định Thương Mại
Việt Nam - Hoa Kỳ do các bộ, ngành, tỉnh, thành… tổ chức)

KHÁI QUÁT CHUNG
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 8 năm 1995, hai nước đã thỏa thuận từng bước bình thường hóa quan hệ kinh tế - thương mại. Theo hướng đó, từ năm 1996 hai nước đã bắt đầu đàm phán về Hiệp định Thương mại. Qua 11 vòng đàm phán, ngày 13 tháng 7 năm 2000 Hiệp định đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 10 tháng 12 năm 2001 sau khi được Quốc hội hai nước phê chuẩn.
Việc đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là một bước đi cần thiết để hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời nằm trong quá trình nước ta từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới nhằm mở rộng thị trường, có thêm đối tác, tranh thủ vốn và công nghệ từ bên ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
 Các nguyên tắc đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
- Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được đàm phán và ký kết theo những nguyên tắc sau:
1. Tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước, bình đẳng cùng có lợi. Việc Hoa Kỳ và Việt Nam dành cho nhau quy chế đãi ngộ Tối huệ quốc không phải chỉ đem lại lợi ích cho phía Việt Nam mà còn cho cả phía Hoa Kỳ, cho các công ty Hoa Kỳ;
2. Việt Nam tôn trọng các luật lệ và tập quán quốc tế, sẽ từng bước điều chỉnh, bổ sung các luật lệ, cơ chế của mình theo hướng đó, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam;
3. Việt Nam chấp nhận việc tuân thủ các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và sẽ thực hiện từng bước phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế có vận dụng những ngoại lệ dành cho một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp;
4. Việt Nam là nước đang phát triển, đang chuyển đổi nền kinh tế, do đó có quyền được hưởng sự hỗ trợ của các nước phát triển, trong đó có Hoa Kỳ. Những điều kiện Hoa Kỳ không đặt ra với các nước khác thì không được đòi hỏi Việt Nam phải đáp ứng.
KẾT QUẢ ĐÀM PHÁN
“Hiệp định giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ Thương mại” là một Hiệp định Thương mại có tính “tổng thể”, bao gồm cả thương mại hàng hóa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và phát triển quan hệ đầu tư, Hiệp định có 7 chương.
Kèm theo Hiệp định có các phụ lục A, B (B1, B2, B3, B4), C (C1, C2), D (D1, D2), E, F, H, I; thư trao đổi là các bộ phận cấu thành của Hiệp định.
PHẦN MỞ ĐẦU
Phần này xác định các nguyên tắc chung để phát triển quan hệ kinh tế và thương mại, trong đó nổi lên 3 nội dung quan trọng là:
- “Thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế và Thương mại bình đẳng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau”.
-“Các Bên chấp nhận và tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn thương mại quốc tế”;
- “Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp và đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và đang tiến hành các bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới”.
Chương I
THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA

Chương Thương mại hàng hóa gồm 9 điều và các phụ lục A, B (B1,B2, B3, B4), C (C1, C2), D (D1, D2), E trong đó có các nội dung chủ yếu như:
1. Về quy chế Tối huệ quốc và không phân biệt đối xử
Hai bên thỏa thuận dành cho nhau “ngay lập tức và không điều kiện” quy chế Quan hệ Thương mại bình thường (Tối huệ quốc).
Tuy nhiên, theo luật Hoa Kỳ liên quan tới Điều luật Giắc-xơn - Va-ních (Jackson - Vanik). Hàng năm Quốc hội Hoa Kỳ vẫn sẽ xem xét gia hạn miễn trừ điều luật bổ sung Jackson - Vanik đối với Hiệp định Thương mại Việt Nam để hàng hóa Việt Nam hưởng quy chế Tối huệ quốc cho tới khi Việt Nam gia nhập WTO. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì mới được hưởng quy chế Tối huệ quốc vĩnh viễn. Trong Hiệp định không nói cụ thể về điều này mà chỉ hàm ý trong Tiết 3 Điều 8, Chương VII khi nói rằng, “nếu một trong hai Bên không có thẩm quyền pháp lý trong nước để thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hiệp định này, thì một trong hai Bên có thể đình chỉ việc áp dụng Hiệp định này, hoặc bất kỳ bộ phận nào của Hiệp định, kể cả quy chế Tối huệ quốc, với sự thỏa thuận của Bên kia”.
Về thuế nhập khẩu
- Về phía Hoa Kỳ, ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ dành mức thuế xuất nhập khẩu Tối huệ quốc cho hàng hóa của ta, tức là thuế suất trung bình khoảng 3%, thấp hơn nhiều so với mức thuế mà hàng hoá của ta đã phải chịu khi xuất sang thị trường này (trung bình khoảng 40-50%).
- Hoa Kỳ cũng cam kết trong quá trình thực hiện Hiệp định, nếu Hoa Kỳ giảm thuế cho các nước khác do kết quả đàm phán trong khuôn khổ WTO thì cũng dành cho Việt Nam ưu tiên như vậy, dù lúc đó Việt Nam có thể chưa là thành viên của WTO.
- Việt Nam cho hàng hóa nhập từ Hoa Kỳ hưởng mức thuế nhập khẩu Tối huệ quốc (thực tế được hưởng từ năm 1999).
- Ngoài ra theo thỏa thuận ghi trong Hiệp định, từ 3 đến 6 năm tùy theo mặt hàng, sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ giảm thuế đối với 224 mặt hàng và giữ nguyên mức thuế hiện hành của 20 mặt hàng. Đối với các mặt hàng còn lại Việt Nam chưa cam kết.
Theo tinh thần của Hiệp định và thư kèm của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ thì sau khi Hiệp định có hiệu lực, lập tức hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu cũng được hưởng mức thuế Tối huệ quốc. Còn việc Hoa Kỳ áp dụng chế độ hạn ngạch hàng dệt may đối với nước ta khi Việt Nam chưa phải là thành viên WTO thì hai bên còn phải đàm phán để ký một Hiệp định riêng về hàng dệt may.
2. Quy chế đối xử quốc gia
Hiệp định yêu cầu Việt Nam và Hoa Kỳ dành đối xử quốc gia cho hàng nhập khẩu của nhau. Điều này có nghĩa là Việt Nam và Hoa Kỳ thỏa thuận dành cho hàng hóa của Bên kia sự đối xử như đối xử dành cho hàng hóa của mình. Nghĩa vụ đối xử quốc gia bao gồm những vấn đề sau:
Thuế và phí nội địa: thuế và phí nội địa sẽ không được đánh vào hàng hóa nhập khẩu từ Bên kia cao hơn mức đánh vào sản phẩm tương tự trong nước.
Luật trong nước: sản phẩm nhập khẩu từ Bên kia được hưởng sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử với sản phẩm tương tự trong nước theo luật trong nước liên quan đến việc bán, mua, vận chuyển, phân phối, lưu kho hoặc sử dụng những hàng hóa đó.
Các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật: các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật không được sử dụng để cản trở thương mại hoặc để bảo hộ sản xuất trong nước, và phải được áp dụng theo cách để hàng nhập khẩu nhận được sự đối xử tương tự hoặc tốt hơn đối với hàng trong nước.
Những biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực vật chỉ được áp dụng khi cần thiết để bảo vệ sức khỏe và đời sống con người, động vật và thực vật, và phải dựa trên những nguyên lý khoa học được hỗ trợ bởi những bằng chứng khoa học đầy đủ và đánh giá được mức độ rủi ro.
3. Quyền kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu
Trong Hiệp định, Hoa Kỳ cam kết, ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ dành quyền kinh doanh xuất nhập khẩu tại Hoa Kỳ cho mọi pháp nhân và thể nhân Việt Nam xuất nhập khẩu tại Hoa Kỳ. Còn Việt Nam sẽ thực hiện từng bước theo lộ trình sau:
Về chủ thể:
- Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của công dân và công ty Hoa Kỳ được phép nhập khẩu các hàng hóa và sản phẩm để sử dụng vào hay có liên quan đến hoạt động sản xuất, hoặc xuất khẩu, trừ các hạn chế được quy định tại Phụ lục B và C.
- Ba năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của các công dân và công ty Hoa Kỳ được phép kinh doanh xuất nhập khẩu, trừ các hạn chế được quy định tại Phụ lục B, C và D và với điều kiện là các doanh nghiệp này có các hoạt động kinh doanh lớn trong lĩnh vực sản xuất và chế tạo;
- Ba năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các công dân và công ty Hoa Kỳ được phép tham gia liên doanh với các đối tác Việt Nam để tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu tất cả các mặt hàng, trừ các hạn chế quy định tại Phụ lục B, C và D. Phần góp vốn của các công ty Hoa Kỳ trong kinh doanh không vượt quá 49% vốn pháp định. Ba năm sau đó mức hạn chế đối với sở hữu của Hoa Kỳ là 51%.
- Bảy năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các công ty Hoa Kỳ được phép thành lập công ty 100% vốn để xuất nhập khẩu hàng hóa, trừ các hạn chế quy định tại Phụ lục B, C và D;
Về mặt hàng
- Việt Nam bảo lưu Phụ lục D gồm 255 nhóm hàng (tức khoảng 2590 mặt hàng quan trọng chỉ cho phép các chủ thể trên kinh doanh xuất nhập khẩu theo một lộ trình từ 5 đến 10 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực và Phụ lục C1 gồm 33 mặt hàng nhập khẩu, Phụ lục C2 gồm 12 mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất, phải xuất khẩu qua đầu mối do Nhà nước chỉ định (Chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh)).
4. Hàng rào phi thuế quan
Hiệp định yêu cầu các Bên loại bỏ tất cả hàng rào phi thuế quan, bao gồm những hạn chế về xuất nhập khẩu, hạn ngạch, yêu cầu cấp phép. Tuy nhiên Việt Nam cam kết thực hiện nghĩa vụ đó trong thời hạn từ 2 đến 7 năm tùy từng mặt hàng hóa ghi trong phụ lục B1, B2.
5. Định giá hải quan và phí xuất nhập khẩu
Hai Bên thỏa thuận rằng phí và lệ phí liên quan đến nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa, không được thu vượt quá chi phí dịch vụ mà cơ quan đó thực hiện.
Ngoài ra, các bên thỏa thuận rằng trong vòng 2 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực việc định giá hải quan đối với hàng nhập khẩu sẽ tuân theo những tiêu chuẩn được quy định tại Hiệp định về Định giá hải quan của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
6. Tự vệ trong trường hợp khẩn cấp
Các Bên đồng ý sự tham vấn về rối loạn thị trường có thể xảy ra do gia tăng nhanh chóng nhập khẩu hàng hóa tương tự từ Bên kia khi sự gia tăng, đó là nguyên nhân đáng kể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về vật chất đối với ngành sản xuất trong nước. Trong trường hợp các bên không thể đưa ra biện pháp khắc phục thông qua tham vấn, Hiệp định cho phép một Bên bảo vệ ngành sản xuất trong nước bằng cách áp dụng cái gọi là các biện pháp tự vệ đối với hàng nhập khẩu, dưới hình thức hạn chế số lượng, tăng thuế hoặc những hạn chế khác để chống lại sự rối loạn thị trường. Bên có hàng nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi biện pháp tự vệ được phép đình chỉ nghĩa vụ của mình theo Hiệp định có giá trị thương mại cơ bản tương đương.
7. Thương mại Nhà nước
Quy định này cho phép các Bên duy trì những doanh nghiệp thương mại nhà nước và dành cho những doanh nghiệp đó những ưu đãi tuyệt đối hoặc đặc biệt để xuất khẩu hoặc nhập khẩu những sản phẩm được nêu trong Phụ lục C của Hiệp định. Tuy nhiên, những doanh nghiệp nhà nước này phải tuân thủ các nguyên tắc không phân biệt đối xử của Hiệp định trong việc mua và bán hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu của mình. Điều này có nghĩa là họ phải thực hiện việc mua và bán hoàn toàn dựa trên những cân nhắc về thương mại, và cho phép các công ty của Bên kia cơ hội để cạnh tranh khi tham gia vào những hoạt động mua bán đó.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website