nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

THỎA THUẬN NGUYÊN TẮC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – HOA KỲ

THỎA THUẬN NGUYÊN TẮC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VIỆT NAM – HOA KỲ

Thời báo kinh tế SG ngày 29 tháng 7 năm 1999

Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc các điều khoản của Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ. Tại Hà Nội, 14 giờ ngày 25 tháng 7 năm 1999, hai Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Đình Lương và Joseph Damond đã ký Bản thỏa thuận về nguyên tắc về Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Lần đầu tiên sau bốn năm đàm phán, trưa chủ nhật ngày 25 tháng 7 năm 1999, hai Bên đã đưa ra một bản Thông cáo báo chí với nội dung là các nhà đàm phán Mỹ - Việt đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc các điều khoản của Hiệp định song phương.
Hiệp định xử lý các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quan hệ đầu tư giữa hai nước.
Để ký kết được Hiệp định hai Bên còn phải tiếp tục làm việc để hoàn tất các chi tiết kỹ thuật để trình lên Chính phủ và các cơ quan thẩm quyền xem xét./.

 

VỚI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
CÓ CƠ HỘI NHƯNG KHÔNG THỂ
CÓ NGAY “TRẬN MƯA VÀNG”


THÁI THANHthực hiện

Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 29/8/1999

Trước khi lên đường đi Washington thảo luận một số vấn đề Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại, đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Đình Lương đã dành cho Thời báo kinh tế Sài Gòn cuộc phỏng vấn xung quanh thảo luận này.

TBKTSG: Thưa ông, dư luận chung và giới đầu tư kinh doanh không khỏi thắc mắc: vì sao một Hiệp định mất đến bốn năm đàm phán, qua ba đời Bộ trưởng thương mại Việt Nam mới đạt đến thoả thuận nguyên tắc, rồi năm ngoái, khi tưởng như sắp ký kết thì lại bị hoãn mà không có một lời giải thích. Ông có thể cho biết vì sao đàm phán lâu dài và trắc trở như vậy?
Ông Nguyễn Đình Lương (NĐL): sở dĩ đàm phán lâu, là do “giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có nhiều điểm khác biệt” như trình độ phát triển, hệ thống luật pháp, cơ chế vận hành của nền kinh tế… Để giải quyết những khác biệt này, hai bên đã nhất trí xây dựng một Hiệp định trên cơ sở những luật chơi chung của thế giới mà hạt nhân là luật lệ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tuy nhiên, luật chơi của WTO đối với mỗi nước là gì, gồm những nội dung nào thì mỗi nước đều thích hiểu theo cách có lợi nhất cho nước mình.
Ngoài ra, chúng ta đang đi những bước đầu tiên của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên không phải ai cũng hiểu hết luật chơi của thế giới, điều đó buộc chúng ta phải có thời gian tìm hiểu cho kỹ, cho sâu luật chơi của thế giới trước khi cam kết thực hiện nó.
TBKTSG: Nhưng cụ thể trong bản Hiệp định này, chúng ta cam kết những gì?
Ông NĐL: trong bản Hiệp định này có hai loại cam kết. Thứ nhất là Việt Nam cam kết áp dụng các quy định, luật lệ của WTO làm hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Luật lệ của WTO là luật lệ kinh tế thị trường.
Tôi thấy rằng trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã không ngừng bổ sung, điều chỉnh hệ thống luật lệ của mình nên về cơ bản, hệ thống luật lệ của ta hiện nay đã có nhiều chỗ khớp với luật lệ quốc tế, còn chỗ nào không khớp, tất nhiên chúng ta phải xử lý tiếp để có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Thứ hai là những cam kết về mở cửa thị trường. Chúng ta đã cam kết mở của thị trường đầu tư, hàng hoá, dịch vụ. Cái mới ở đây là lần đầu tiên chúng ta cam kết mở cửa thị trường thương mại và dịch vụ theo những nguyên tắc WTO. Trong các lĩnh vực dịch vụ, chúng ta cam kết mở cửa thị trường ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, du lịch, tư vấn, dịch vụ kỹ thuật.
Vì đây là lần đầu tiên ta cam kết, lại là nước đang phát triển, đang chuyển đổi nền kinh tế, và do trình độ kinh tế của ta còn thấp, thị trường lại chưa lớn nên những cam kết của chúng ta trong các lĩnh vực dịch vụ cũng chỉ ở mức hạn hẹp và mở dần từng bước. Nhưng quan trọng là chúng ta đã vạch ra được một lộ trình rõ ràng để mở cửa các thị trường này để các nhà đầu tư xem xét và đưa ra các quyết định cho công cuộc kinh doanh của mình. Tôi cho rằng mở cửa thị trường dịch vụ cũng là cần thiết để ta phát triển các ngành dịch vụ nói riêng và kinh tế nói chung. Trên thế giới, ở các nước phát triển kinh tế dịch vụ thu hút tới 70 - 80% lao động. Còn ở nước chúng ta dịch vụ chưa phát triển và cũng chưa được nhận thức đầy đủ, thống nhất về ý nghĩa kinh tế và việc chúng ta cam kết mở cửa thị trường này cũng là để thúc đẩy ngành kinh tế này phát triển.
TBKTSG: Còn sau khi ký Hiệp định?
Ông NĐL: ta phải thực hiện Hiệp định. Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thực tế là một cam kết hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới tiếp theo của việc ta gia nhập AFTA, APEC. Đây là cơ hội để kinh tế Việt Nam có bước phát triển mới. Nhưng cơ hội không tự đến với chúng ta. Muốn có cơ hội, ta phải vượt qua nhiều thách thức, thách thức trước hết đó là trong cách hành động của ta, cụ thể là trong điều hành kinh tế phải tốt hơn, khẩn trương hơn, chính sách cơ chế phải rõ ràng hơn; hoạt động kinh doanh phải có hiệu lực thực sự hơn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ phải có sức cạnh tranh cao hơn… nói chung là có rất nhiều việc phải làm và tôi cho rằng Chính phủ sẽ phải có hướng dẫn và có một số chương trình công tác cụ thể để triển khai thực hiện.
TBKTSG: Theo ông, cụ thể đối với các doanh nghiệp, lợi ích trực tiếp của Hiệp định sẽ bao gồm những gì?
Ông NĐL: tôi cho rằng Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ không thể mang đến Việt Nam “trận mưa vàng”. Nó sẽ tạo ra một số cơ hội kinh tế nếu các doanh nghiệp nắm bắt được và quan trọng hơn là nếu các doanh nghiệp vượt qua được những thách thức mà bản Hiệp định mang lại và khai thác được các cơ hội đó. Sau khi bản Hiệp định được phê chuẩn, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ sẽ tăng nhanh nhờ được hưởng Quy chế thương mại bình thường như nhiều nước khác. Các nhà đầu tư nước ngoài từ Mỹ, Nhật, Tây Âu cũng như các nước trong khu vực sẽ cùng với các đối tác Việt Nam tổ chức sản xuất để xuất khẩu vào Mỹ một số mặt hàng mà thị trường này đang có nhu cầu. Bầu không khí sản xuất kinh doanh trong nước sẽ có sự nhộn nhịp hơn.
Bản Hiệp định này cũng sẽ làm cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm rằng ở Việt Nam có một môi trường kinh doanh lành mạnh, hệ thống luật lệ về đầu tư, thương mại đúng luật chơi, có thể bảo vệ được lợi ích của họ, qua đó họ sẽ đầu tư nhiều hơn và cũng qua đó, những người Việt Nam có tiền, lâu nay vẫn cất giữ, nay sẽ yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh.
Việc mở cửa thị trường theo lộ trình trong Hiệp định cũng sẽ là một sự thúc ép, bắt buộc chúng ta phải thực hiện tốt hơn, khẩn trương hơn các chương trình công tác đang triển khai như cải cách hành chính, đổi mới xí nghiệp quốc doanh, điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm, đổi mới công nghệ, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần. Cũng nhờ mở rộng sản xuất, mở rộng và tăng kim ngạch xuất khẩu. Vấn đề giải quyết công ăn việc làm đó cũng sẽ được cải thiện.
TBKTSG: Bao giờ Hiệp định có hiệu lực? Và Hiệp định có quy định quy chế quan hệ bình thường mà Mỹ dành cho Việt Nam sẽ được xem xét từng năm như Mỹ áp dụng với Trung Quốc trước đây?
Ông NĐL: Hiệp định sẽ bắt đầu có hiệu lực khi Quốc hội hai nước phê chuẩn. Còn quy chế thương mại bình thường mà Mỹ dành cho Việt Nam cũng sẽ được xem xét từng năm và việc xem xét này chỉ chấm dứt khi nào chúng ta đã là thành viên của WTO./.

 

KỂ CHUYỆN THƯƠNG LƯỢNG
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ

  THÁI THANH thực hiện

    Thời báo Kinh tế Sài Gòn -  Xuân Tân Tỵ 2001

Một trong những thành công của Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại năm qua là việc ký Hiệp định Thương mại với Mỹ. Ông Nguyễn Đình Lương, Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam, kể lại vài kỷ niệm trong quá trình thương thảo Hiệp định này.

Chân đất đá với chân mang giày
Đó là cách nói của ông Lương khi so sánh đoàn chuyên viên đàm phán hai nước. Ông nói rằng, “đội tuyển Việt Nam” đi đàm phán Hiệp định Thương mại là một “đội tuyển nghiệp dư”, bao gồm các quan chức của Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính… đang giữ các vị trí công tác khác nhau, được Phó Thủ tướng Trần Đức Lương trước đây tập hợp thành một “đội tuyển” theo Quyết định thành lập đoàn chuyên viên đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ.
“Các chuyên viên trong đoàn đều là những người có nhiều kinh nghiệm trong đàm phán các Hiệp định Thương mại song phương, nhưng được đào tạo từ Liên Xô, Đông Âu cũ, chưa quen với khái niệm của Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO”, ông Lương nói.
Trong khi đó, phía đối tác là “một đội bóng chuyên nghiệp”, là những luật sư, là những người của Cơ quan đại diện Thương mại (USTR) trực thuộc Phủ Tổng thống (không phải trực thuộc Bộ Thương mại) chuyên đi đàm phán và ký kết các Hiệp định Kinh tế Thương mại song phương và đa phương. Họ là một trong những tác giả xây dựng nên luật chơi chung cho thế giới. Chính “đội tuyển này” đã soạn thảo và ký kết một loạt các Hiệp định thương mại song phương với các nước Đông Âu, các nước cộng hòa của Liên Xô cũ và với cả Lào, Cam-pu-chia, trước khi bắt tay vào đàm phán với Việt Nam.
Các vòng đàm phán đầu tiên hai bên chủ yếu tìm hiểu cơ chế thương mại của nhau và đến tháng 4 năm 1997, tại vòng đàm phán thứ ba, phía Mỹ đã soạn thảo và trao cho Việt Nam một bản dự thảo Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ tổng thể bao gồm 4 chương: thương mại, sở hữu trí tuệ, đầu tư và dịch vụ, theo quan điểm mở cửa tự do hoàn toàn.
“Bản dự thảo Hiệp định này áp dụng các quy định của WTO dành cho những nước phát triển”, Ông Lương nhớ lại. Để có thể hiểu hết nội dung được đề cập đến trong bản dự thảo của phía Mỹ, ông Lương cho biết, lúc đó ông đã đưa nội dung bản Hiệp định cho một số chuyên gia kinh tế từng phục vụ trong chế độ Sài Gòn trước năm 1975 vốn quen với các khái niệm kinh tế thị trường và đã từng học tập, làm việc ở Mỹ xem, nhưng các chuyên gia này cũng thừa nhận bản Hiệp định bao hàm những khái niệm mới, chưa xuất hiện vào thời kỳ 25 năm trước.
Để hiểu kỹ các khái niệm này, cả đoàn Việt Nam phải tìm đọc tất cả các Hiệp định Thương mại mà Mỹ đã ký với các nước có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam. Nhưng theo ông Lương, Việt Nam “chỉ ký Hiệp định Thương mại với Mỹ trên cơ sở các quy định WTO áp dụng đối với nước đang phát triển ở trình độ thấp”.
Và bài toán mà ông Lương và các đồng sự của ông phải giải và tìm ra được các quy định của WTO “áp dụng đối với nước đang phát triển ở trình độ thấp”.
Tại vòng thứ 5 tổ chức vào tháng 5 năm 1998, trước khi đi Washington, các chuyên viên Việt Nam thiết kế bản dự thảo Hiệp định mới theo nguyên tắc WTO áp dụng cho nước có trình độ phát triển thấp.
“Sự cố” ở vòng đàm phán cuối
Được lãnh đạo phê duyệt các “phương án đàm phán” tùy theo tình hình diễn biến cụ thể khác nhau, chiều ngày 30 tháng 6 năm 2000, ông Lương cùng đoàn chuyên viên lên đường đi Washington trước để chuẩn bị.
Ông Lương cho biết, “Sáng thứ Hai đầu tiên của tháng 7, tôi cảm thấy một không khí cởi mở khi bước vào đàm phán, dường như người Mỹ cũng nóng lòng với bản Hiệp định, không cần mất nhiều thời gian thảo luận như trước đây. Sau đó, các chuyên viên hai bên rà soát lại một lần nữa toàn văn bản Hiệp định và hai bên nhanh chóng giải quyết các vấn đề còn lại vì trước đó hai bên cũng đã sơ bộ thống nhất thông qua tư vấn, ông Dan Price, sang Hà Nội tháng 3 năm 2000 và định ngày ký chính thức là 13 tháng 7 năm 2000.
Khi chuẩn bị ký chính thức thì phát sinh sự cố: phía Việt Nam mang giấy cứng, bìa cứng Hiệp định từ Hà Nội sang theo quy định của Bộ Ngoại giao. Ở Washington không có nơi nào sử dụng máy in để in vào giấy cứng như vậy, và cũng không thể đóng vào bìa cứng có dấu Quốc huy, bởi hiệp định là cả một tập trên 300 trang trong lúc bìa cứng chỉ đóng tối đa từ 15 đến 20 trang. Tình huống đó buộc phải sử dụng giấy của Mỹ và không dùng bìa cứng.
Xử lý kỹ thuật vấn đề này mất hết cả ngày 13 tháng 7 năm 2000. Theo như thỏa thuận, đúng 14h 00 ngày 13 tháng 7 năm 2000 đã diễn ra lễ ký chính thức. Các phóng viên đã chờ sẵn để đưa tin, chụp ảnh.
Văn bản Hiệp định đang xử lý ở nhà in ngoài phố. Các báo ở Hà Nội đang chờ tin và ảnh của Thông tấn xã Việt Nam gửi về để lên khuôn báo. Và quan trọng hơn là 16h 00 ngày hôm đó, 13 tháng 7 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton họp báo để thông báo với thế giới rằng hai cựu thù “đã ký” Hiệp định Thương mại, thiết lập quan hệ hợp tác thương mại hai bên cùng có lợi. Tình huống đó buộc phải tổ chức cho hai Bộ trưởng ngồi vào bàn để “ký” và chụp ảnh (nhưng chưa có văn bản Hiệp định).
Ngày hôm sau 14 giờ ngày 14 tháng 7 năm 2000 Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barsefsky và Bộ Trưởng Vũ Khoan mới ký chính thức sau khi hai Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Đình Lương và Joseph Damond thực hiện xong 1.200 chữ ký tắt vào từng trang Hiệp định của cả hai phía./.

NGƯỜI ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
KỂ CHUYỆN


 QUẢNG HÀ thực hiện

Báo Lao động - Xuân Tân Tỵ

Ký kết Hiệp định Thương mại (HĐTM) Việt Nam - Hoa Kỳ là một trong những sự kiện lớn của Thương mại Việt Nam năm 2000. Trợ lý Bộ trưởng thương mại Nguyễn Đình Lương - Trưởng đoàn đàm phán HĐTM - đã trả lời phỏng vấn báo Lao Động.

- Ông tiến hành một cuộc đàm phán kéo dài đến 5 năm. Tại sao lại lâu như vậy?
- Vì đây là một cuộc đàm phán rất khó. HĐTM là một trong những văn bản quan trọng thiết kế mối quan hệ làm ăn lâu dài giữa hai nước, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều phải tìm đến những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của mình, đều phải cân nhắc kỹ. Khó là không thể sử dụng được kinh nghiệm đàm phán các HĐTM đã ký với các nước khác trước đây. Vì các Hiệp định đã ký đó không “va đập” khung pháp lý hiện hành của ta. Đây là lần đầu tiên ta tiến hành một cuộc đàm phán HĐTM dựa trên nguyên tắc WTO. Ta chấp nhận luật chơi chung, nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc của ta như tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích dân tộc, và giữ vững định hướng XHCN. Không phải dễ dàng tìm ra tiếng nói chung từ các nguyên tắc khác nhau như vậy.
Nguyên tắc WTO mà Hoa Kỳ mong muốn có những yêu cầu cao, những lộ trình mở cửa sớm. Ta đưa thêm vào yêu cầu (và cuối cùng phía Hoa Kỳ phải chấp nhận) là nguyên tắc WTO đó áp dụng cho nước có nền kinh tế chuyển đổi, đang phát triển, có trình độ thấp. Hiệp định đảm bảo được những nguyên tắc, yêu cầu trên thì ta mới ký được.
- Đâu là bước ngoặt quan trọng nhất trong 5 năm đàm phán
thưa ông?
- Vòng 5 diễn ra vào tháng 5 năm 1998. Trong 4 vòng đàm phán trước đó, 2 bên chủ yếu trao đổi thông tin, trao đổi quan điểm và thăm dò ý tứ của nhau. Tại vòng 3 (tháng 4 năm 1997) phía Hoa Kỳ đã chuyển cho Việt Nam một bản dự thảo Hiệp Định với đầy đủ những điều khoản cần thiết của một HĐTM “tổng thể”. Không lâu sau đó, Hoa Kỳ ký HĐTM với một vài nước có điều kiện giống Việt Nam. Nội dung các Hiệp định giống như bản dự thảo họ gửi cho Việt Nam. Khi bước vào vòng 5, chúng ta đã gửi cho phía Hoa Kỳ một bản dự thảo được xây dựng trên những nguyên tắc WTO áp dụng cho nước có nền kinh tế chuyển đổi, nước đang phát triển có trình độ thấp. Trong bản dự thảo này có các điều khoản thiết kế lại khác so với dự thảo ban đầu Hoa Kỳ trao cho ta như chương thương mại dịch vụ, chương đầu tư như các lộ trình bảo lưu (thời hạn bảo lưu các biện pháp bảo hộ, phi quan thuế, và lộ trình mở cửa thị trường cho đầu tư, dịch vụ).
- Theo ông, vấn đề khó xử lý nhất trong nội dung bản Hiệp định Thương mại là gì?
- Có nhiều quy phạm mới, nói chung đều khó. Theo tôi khó nhất là Quy tắc đối xử quốc gia (National Treatment, viết tắt là NT). Đây là vấn đề mới với ta, thậm chí hiện còn được dịch sang tiếng Việt thành nhiều khái niệm như đối xử quốc gia, đối xử quốc dân, đối xử công dân. Đối xử quốc gia nói nôm na là đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Hàng trong nước chịu mức thuế nào thì hàng nước ngoài chịu mức thuế đó. Hàng nhập khẩu phải trả chi phí nào thì hàng trong nước cũng phải trả chi phí đó… NT là luật chơi của Hiệp định Chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) từ khi mới thành lập năm 1947, nó không tồn tại trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) trước đây, nên mới lạ và càng khó với ta. NT liên quan đến hầu hết các quy định pháp luật của ta. Phải điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật của ta.
- Có người nói rằng các lộ trình bảo lưu mà ta cam kết quá ngắn, khiến nhiều ngành kinh tế không kịp chuẩn bị?
- Sau khi ký Hiệp định xong cũng có người nói với tôi là sao lại để lộ trình bảo lưu lâu thế, vì càng để lâu bao nhiêu, nền kinh tế càng khó thoát khỏi tình trạng trì trệ bấy nhiêu. Tôi muốn nói rằng đây là lộ trình đã được các bộ ngành cân nhắc kỹ, đã đề xuất và được lãnh đạo Đảng và Nhà nước xem xét và quyết định. Nó cũng đã được các tổ chức kinh doanh tham gia ý kiến rộng rãi. Lộ trình bảo lưu trong Hiệp định này (từ 2 đến 10 năm tùy từng ngành) dài hơn bất kỳ lộ trình nào của những nước mới tham gia WTO từ ngày 01 tháng 01 năm 1995. Lấy ví dụ lộ trình cho phép công ty nước ngoài kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) phải sau 3 năm phía Hoa Kỳ mới được thành lập liên doanh kinh doanh XNK với tỷ lệ góp vốn không quá 49%, sau 6 năm mới được tăng lên tối đa 51%, sau 7 năm mới được thành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ. Đồng thời ta bảo lưu 255 nhóm mặt hàng cho phép kinh doanh từng bước theo lộ trình 2 đến 10 năm, 45 mặt hàng thiết yếu cho quốc kế dân sinh phải xuất nhập khẩu qua đầu mối do Nhà nước chỉ định.
- Việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, như ông vừa nói, là rất khó khăn?
- Sẽ là việc khó khăn mà chúng ta phải “đánh vật” trong năm tới nếu HĐTM được Quốc hội hai bên phê chuẩn. Cần phải nói là các nước khác rất khâm phục về tốc độ xây dựng luật pháp tại Việt Nam trong thời gian qua. Nhưng các nhà doanh nghiệp không thể nào yên tâm được với hệ thống luật pháp không ổn định, không đồng bộ, chồng chéo, chung chung, khó thực hiện. Tính minh bạch và khả năng nhìn trước được của luật pháp Việt Nam còn thấp và đặc biệt đây là một hệ thống pháp luật phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu xa lạ với luật pháp quốc tế.
- Ông nghĩ gì về việc nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn rất lo lắng trước sức cạnh tranh của các Công ty Hoa Kỳ?
- Tôi nhớ cuối những năm 80 (của thế kỷ XX), khi bỏ sổ gạo, mọi người cũng lo lắng. Không biết lấy đâu ra gạo mà ăn. Nhưng mới bỏ sổ gạo được một mùa cày thì Nhà nước đã phải lo tìm thị trường xuất khẩu vì gạo thừa nhiều quá. Năm 1989 – 1990, nguồn viện trợ kinh tế khổng lồ từ Liên Xô () đột nhiên bị cắt, tưởng như chúng ta không đứng vững được. Nhưng năm 1990, ta lại bắt đầu lấy được đà phát triển. Tình thế hiện nay cũng vậy. Cứ đặt doanh nghiệp vào thế cạnh tranh và với những tố chất thông minh, thích ứng nhanh của người Việt Nam, họ sẽ trưởng thành. Tất nhiên giải quyết vấn đề sức cạnh tranh cần làm từng bước (vì thế mới phải có lộ trình bảo lưu) và có chiến lược, chính sách cơ chế rõ ràng từ phía Nhà nước.
- Một cuộc đàm phán 5 năm chắc phải có nhiều chuyện vui buồn?
- Vào ngày ký Hiệp định, khi tôi còn đang chạy lo in Hiệp định thì một số thành viên đoàn đàm phán được mời vào Nhà Trắng. Khi sắp đến giờ, những người xung quanh giục đi nhưng Bộ trưởng Vũ Khoan nói: “Ông Lương là người vất vả nhất. Tôi đi phải có ông Lương, chưa có ông Lương tôi chưa đi”. Và Bộ trưởng Vũ Khoan cứ chờ tôi về rồi mới cho xe nổ máy. Đó là tình người. Mới hay, tình người, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn là cái quý giá nhất, cái đáng trân trọng nhất của con người.
- Xin cảm ơn ông và chúc ông một cái Tết vui vẻ./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website