nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Số 47/2000, ngày 16/11/2000

(Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton)

Tối nay, ngày16 tháng11 năm 2001, Tổng thống Mỹ Bill Clinton từ Hội nghị cấp cao APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương) sẽ đáp máy bay đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 11 năm 2000.

Trong thời gian ở Hà Nội, theo dự kiến, Tổng thống Bill Clinton sẽ gặp Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải. Ông cũng sẽ thăm một điểm khai quật hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam ở gần Hà Nội, và phát biểu tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Sau đó, ông sẽ đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây ông sẽ có cuộc gặp với đại diện cộng đồng doanh nhân Hoa Kỳ đang làm ăn ở Việt Nam và thăm một vài cơ sở kinh tế. Số người trong phái đoàn Hoa Kỳ cùng đi với Tổng thống Bill Clinton lên đến 1.500 người, ngoài bà Hillary Rodham vừa đắc cử Thượng nghị sĩ, con gái Chelsea, các nghị sĩ, nhà báo, còn có khoảng 50 nhà lãnh đạo các tập đoàn và công ty lớn của Hoa Kỳ đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư kinh doanh.

Nhân chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG) đã mời ông Nguyễn Đình Lương, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam, nhà thương lượng của Việt Nam về Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, phát biểu về thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ dưới tác động của Hiệp định song phương vừa ký kết.

Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ hôm nay

Hoa Kỳ đang trở thành đối tác kinh tế thương mại quan trọng của Việt Nam ngoài châu Á. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước năm 1995, mặc dù phải chịu mức thuế rất cao do chưa được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) nhưng hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tăng đều (trung bình 12 - 15%/năm), chủ yếu ở những mặt hàng mà mức chênh lệch giữa thuế có MFN và không có MFN không lớn lắm như cà phê, tôm đông lạnh, chè, gia vị chưa chế biến… Với những mặt hàng này thì xuất khẩu của ta vào thị trường Hoa Kỳ không khó khăn lắm, khả năng ta có bao nhiêu là xuất được bấy nhiêu, thậm chí còn dễ dàng hơn vào một số thị trường truyền thống khác.

Tám tháng đầu năm nay, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 474,716 triệu USD, tăng 62,5 so với cùng kỳ năm ngoái; và nhập khẩu đạt 241,251 triệu USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù hàng hoá Việt Nam vào Hoa Kỳ chưa được hưởng mức thuế Tối huệ quốc (nay gọi là Quan hệ thương mại bình thường - NTR) và hàng hoá Mỹ vào Việt Nam đã được hưởng thuế Tối huệ quốc của Việt Nam nhưng Việt Nam vẫn thường xuyên xuất siêu.

Mục tiêu quan trọng hàng đầu khi Việt Nam quyết định đàm phán và ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ là để hàng hoá Việt Nam được hưởng mức thuế Tối huệ quốc của Hoa Kỳ, nhờ đó hàng hoá Việt Nam được bình đẳng cạnh tranh như hàng hoá các nước khác trên thị trường này. Đó cũng là những hàng hoá mà ta mong muốn và có khả năng phát triển như quần áo, giày dép, thực phẩm chế biến, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, đồ điện gia dụng… mà theo luật hiện hành của Hoa Kỳ, mức chênh lệch giữa thuế Tối huệ quốc và không Tối huệ quốc là rất lớn, thường là cách nhau khoảng 3 - 10 lần.

Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khi thực thi Hiệp định thương mại song phương

Khi được hưởng NTR thì xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tăng nhanh hơn và việc Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này 3 - 5 tỷ USD cũng sẽ không phải là chuyện quá xa vời. Xuất khẩu Việt Nam tăng trước mắt là giày dép, dệt may, thực phẩm chế biến, hoa quả chế biến, linh phụ kiện điện tử…

Việc cắt giảm thuế và khai thông thị trường hai nước kích thích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là vào những ngành nghề cần nhiều lao động để gia công hàng hoá xuất khẩu sang Hoa Kỳ, góp phần chặn đứng đà sút giảm đầu tư hiện nay và thậm chí có thể dẫn đến việc tạo nên một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam nếu ta biết khai thác cơ hội. Mở rộng và tăng cường đầu tư đồng nghĩa với việc tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân và cho xã hội.

Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký trên cơ sở những nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được các nhà đầu tư nước ngoài hiểu là Việt Nam cam kết sẽ cải thiện môi trường đầu tư như ban hành hoặc sửa đổi một số luật lệ, minh bạch hóa quá trình, các chính sách và thủ tục theo hướng công bằng và không phân biệt đối xử, tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng và đúng luật chơi.

Các nhà đầu tư của các nước châu Á, châu Âu và Mỹ vừa đang theo dõi việc khi nào Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực vừa đang khảo sát và bàn bạc với các đối tác Việt Nam để sớm đầu tư vào lĩnh vực gia công hàng xuất khẩu.

Lợi ích căn bản và lâu dài đối với Việt Nam là có cơ hội tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm và phương thức quản lý, các nguồn vốn… Đó là những hành trang cần thiết cho việc tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thiên niên kỷ mới.

Đi đôi với những cơ hội luôn là những thách thức, khó khăn

Khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực sẽ tạo ra một thế mới cho việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là với việc gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong những lĩnh vực như dịch vụ, thương mại… sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn do năng lực cạnh tranh của mình còn yếu. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận việc hội nhập dưới khía cạnh kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới và vươn lên cạnh tranh thì đó lại là một điều tích cực. Hơn nữa, khi đã nhận thức được thách thức, khó khăn và với việc được duy trì sự bảo hộ trong thời gian nhất định khi gia nhập WTO và khi thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các doanh nghiệp của ta phải tranh thủ cơ hội nhanh chóng tự cải thiện mình, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước vươn lên, hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ hiện nay.

Các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để khai thác thị trường Mỹ

Hàng hóa của Việt Nam nói chung có nhược điểm chất lượng chưa cao và chưa đồng đều, mẫu mã chưa phải lúc nào cũng đẹp và hợp thị hiếu khách hàng. Hơn nữa việc đưa hàng hoá vào thị trường Mỹ thường phải qua các kênh phân phối cũng như hệ thống bán lẻ vốn đã ổn định. Các luật lệ, quy định và thủ tục nhập khẩu vào Mỹ rất phức tạp và đồ sộ, việc nắm bắt, thông hiểu và áp dụng những quy định và thủ tục này và thường phải có thời gian và có sự giúp đỡ, tư vấn của các chuyên gia thương mại và luật sư. Người ta thường nói: “Sống bên cạnh một người Mỹ bao giờ cũng có một bác sỹ và một luật sư” để nói rằng hệ thống luật pháp của Mỹ là rất phức tạp, không phải người dân nào cũng nắm được hết. Việc được hưởng mức thuế NTR chỉ là điều kiện chứ chưa phải là điều kiện đủ để hàng hoá Việt Nam vào và cạnh tranh trên thị trường Mỹ, đặc biệt trong bối cảnh nhiều nước đã quen thuộc và đã cày xới thị trường này từ lâu. Do đó, các doanh nghiệp cần làm tốt công tác chuẩn bị:

- Thu nhập thông tin về dung lượng thị trường hàng hoá định xuất khẩu, mẫu mã bao bì, tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật, đối thủ cạnh tranh từ các nước khác.

- Trên cơ sở đó, tăng cường sức cạnh tranh bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến bao bì mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu khách hàng.

- Tìm hiểu và nắm bắt các luật lệ, quy định của Mỹ về xuất nhập khẩu các luật lệ liên quan.

- Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, tích cực thâm nhập vào hệ thống bán lẻ và phân phối trên thị trường Mỹ.

- Tìm hiểu tập quán, phương thức giao dịch kinh doanh của các doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt chú ý đến các tập đoàn đa quốc gia. Các doanh nghiệp Việt Nam cần biết rằng 20% trong số các doanh nghiệp Mỹ nắm giữ đến 90% xuất nhập khẩu của nước này.

Về mặt Nhà nước, Nhà nước cần có các chương trình, chiến lược khai thác thị trường Mỹ cả về thương mại, đầu tư, thu hút công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, công nghệ nguồn, có kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, tìm hiểu và thâm nhập cũng như khai thác tốt hơn thị trường Mỹ.

Mỹ: thị trường lớn nhất và hấp dẫn nhất

Mỹ có nền kinh tế vào loại lớn nhất thế giới với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 1999 là 9,256 tỷ USD. Gần 10 năm liên tục, kinh tế Mỹ luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao chưa từng có trong lịch sử của mình kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II (trung bình từ 3 - 4%). Và năm năm gần đây kinh tế Mỹ liên tục được xếp là nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới. Đây là một điều rất có ý nghĩa nếu như chúng ta biết rằng chỉ cần 1% tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ cũng tạo ra được giá trị tuyệt đối còn lớn hơn 15% tăng trưởng của cả nền kinh tế Trung Quốc. Chính tốc độ tăng trưởng rất ngoạn mục này đã khiến cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân tại Mỹ không ngừng tăng lên, điều đó có nghĩa là nhu cầu mua sắm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá cá nhân như quần áo, giày dép, đồ điện gia dụng… vẫn sẽ ở mức cao. Nhập khẩu của Mỹ năm 1999 là hơn 1.228 tỷ USD mà chủ yếu là nhập siêu hàng hoá. Tổng dung lượng nhập khẩu của Mỹ hiện nay là lớn nhất thế giới, trên cả Liên minh châu Âu (EU). Hầu như hàng hoá của mọi quốc gia đều có mặt trên thị trường siêu khổng lồ này.

Một điểm mang tính đặc thù của nền kinh tế này so với các nước khác là nó có sức mua cực lớn với các phân đoạn thị trường rất rộng vì thế nó có thể thu hút và tiêu thụ nhiều chủng loại hàng khác nhau với số lượng rất lớn thuộc đủ mọi chất lượng từ trung bình đến cao. Hơn nữa, hiện nay Mỹ cơ bản đã thực hiện xong việc chuyển cơ cấu kinh tế từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế thông tin. Mỹ tập trung phát triển các ngành dịch vụ, công nghệ cao và công nghệ thông tin. Một mặt họ đang ra sức tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu dịch vụ, hàng công nghệ cao, mặt khác họ khuyến khích nhập khẩu hàng hoá cần nhiều lao động từ các nước khác, tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước để dân chúng Mỹ được mua hàng rẻ hơn, chất lượng cao hơn. Điều đó khiến cho sức mua của nền kinh tế ngày càng lớn và mức sống của người dân ngày càng cao. Một điểm khác nữa của nền kinh tế Mỹ luôn thu hút mọi nhà xuất khẩu trên khắp thế giới là họ có thể mua hàng có khối lượng lớn và ổn định. Một khi đã qua được giai đoạn giới thiệu sản phẩm và thâm nhập được vào hệ thống phân phối và bán lẻ, những nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ nhận được đơn đặt hàng lớn và ổn định lâu dài đem lại những nguồn doanh thu ổn định và ngày càng tăng giúp cho nhà sản xuất tăng cường đầu tư tái sản xuất mở rộng, liên tục phát triển.

Về luật lệ, phải nói rằng luật lệ và chính sách thương mại của Mỹ là rất phức tạp và đồ sộ nhưng nói chung là thông thoáng và tự do. Trừ một số ít mặt hàng có hạn ngạch, hạn chế số lượng và một số mặt hàng phải đạt được những tiêu chuẩn kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, còn lại đều tự do về nguồn hàng lẫn thương nhân. Mọi công ty của Mỹ đều có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp.

Chính vì những yếu tố hết sức cuốn hút như trên mà các nhà xuất khẩu trên khắp thế giới đều quan tâm đến thị trường Mỹ. Một ví dụ điển hình là Trung Quốc sau hơn 20 năm tích cực liên tục thâm nhập vào thị trường Mỹ, năm 1999, theo thống kê của Hải quan Mỹ, Trung Quốc đã xuất khẩu vào Mỹ 81,6 tỷ USD (chưa tính Hồng Kông), đem lại nguồn ngoại tệ to lớn cho đất nước này, thúc đẩy nhiều ngành sản xuất và dịch vụ phát triển mạnh, tạo ra nhiều công ăn việc làm. Việc đưa càng nhiều hàng hoá vào thị trường Mỹ là mong muốn và khả năng của không ít doanh nghiệp Việt Nam./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website