nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

SAU MỘT NĂM THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 

Nguyễn Đình Lương

Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại, nguyên Trưởng đoàn
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.
Báo Thế giới Thương mại, số 99 ngày 16/11/2002

Đã có người hỏi tôi, gần một năm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ rồi, đã tính được gì, mất gì chưa?

Sớm quá, chưa trả lời được câu hỏi này.

Khi Hiệp định được ký kết, người vui cũng nhiều, người lo cũng lắm. mỗi người chúng ta có sự mong đợi và lo ngại khác nhau. Sự mong chờ và lo lắng đó cũng chỉ mới là dự đoán, là suy diễn, là không cụ thể, là định tính, là chưa định lượng.

Mọi việc chỉ mới bắt đầu. Một năm chỉ là một sải chân trên con đường dài nhiều dặm mà ta đã phải đi để thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Có lẽ phải 40 năm, 50 năm sau, ngồi lại cộng những cái được, cộng những cái mất, trừ đi, xem số dư là âm hay dương, âm dương bao nhiêu, khi đó ta sẽ có câu trả lời thỏa đáng.

Còn tình hình sau một năm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đại thể như sau:

Nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp biết làm ăn thì đang vui mừng, vui vì trong bối cảnh năm nay, kinh tế Hoa Kỳ khó khăn, hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng có khó khăn, mà xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ tăng những hơn 2 lần, nhiều mặt hàng tăng nhanh, như dệt may, giày dép, hải sản, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ gia dụng, đặc biệt là hàng dệt may tăng lên 10 lần, các loại hàng đồ da, túi xách… tăng trên 20 lần. Đó là một thành tích thật đáng khích lệ. Và rõ ràng rằng, nếu như ta thực sự chủ động, có chuẩn bị tốt hơn trước đó, có nhiều hàng xuất khẩu hơn, thì xuất khẩu của ta vào thị trường này chắc chắn còn lớn hơn. Thị trường Hoa Kỳ được thế giới đánh giá là thông thoáng và rộng lớn đang nhanh chóng trở thành một trong những thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Cũng có người buồn rầu nói rằng, đầu tư của Hoa Kỳ từ đầu năm 2002 đến nay vào Việt Nam chậm (10 tháng mới chỉ có trên 100 triệu USD), không đạt yêu cầu, không như mong đợi của chúng ta. Hình như Hiệp định Thương mại chưa làm thay đổi cơ bản cái nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường đầu tư Việt Nam.

Vấn đề tăng giảm đầu tư nói chung và đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam trong năm qua nói riêng còn phải dành nhiều thời gian và giấy bút để bàn kỹ hơn. Những điều cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chỉ mới tạo cho các nhà đầu tư hy vọng là, Hiệp định sẽ góp phần xây dựng Việt Nam một môi trường đầu tư thông thoáng và ổn định, còn việc thay đổi cách nhìn, cách đánh giá của họ, và tạo cho họ niềm tin thì phải chờ xem Việt Nam thực hiện những cam kết đó ra sao. Hôm nay Việt Nam chỉ mới bắt đầu.

Những người không hài lòng với tốc độ tăng trưởng đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam năm qua cũng có ý muốn so sánh với những nước láng giềng của chúng ta, chẳng hạn như ở Trung Quốc. Vài năm gần đây, đầu tư nước ngoài đổ vào Trung Quốc ngày càng nhiều, các nhà đầu tư nước ngoài, trước hết là Hoa Kỳ và Nhật Bản… lục tục rời bỏ nơi này nơi kia để về Bắc Kinh, Thượng Hải làm ăn, vì ngoài lý do thị trường rộng lớn, ở Trung Quốc đã có môi trường đầu tư hấp dẫn. Từ ngày 01 tháng 11 năm 2001, tức là khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO. Họ đã bỏ ngay các rào cản trong đầu tư, đại loại như chế độ hai giá, yêu cầu về cân đối xuất nhập, cân đối ngoại tệ, yêu cầu về nội địa hóa, yêu cầu phải xuất khẩu hàng hóa do xí nghiệp đầu tư sản xuất ra, yêu cầu gắn đầu tư với nguồn nguyên liệu trong nước… Trong lúc đó, ở Việt Nam, những vấn đề này ta còn phải mất 5 - 7 năm nữa mới giải tỏa xong. Nghĩa là ta còn phải ráng chờ…

Một số người lại có nhận định khác. Năm đầu tiên chỉ là năm nghiên cứu thử nghiệm và xây dựng thị trường. Cái được quan trọng là ở chỗ ta đã từng bước hiểu được thị trường vốn dĩ xa xôi và rất khó hiểu này, để rồi làm ăn lâu dài với nó. Ta đã từng bước làm quen, hiểu dần sự phức tạp trong hệ thống luật lệ và cơ chế kinh tế của Hoa Kỳ.

Ví dụ: Ngày 06 tháng 9 năm 2001, Hạ viện Hoa Kỳ cùng một lúc thông qua hai văn bản: Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Đạo luật về Nhân quyền chống Việt Nam, trong đó Đạo luật về Nhân quyền được thông qua với số phiếu gần như tuyệt đối. Nhưng rồi, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thì đi vào cuộc sống ngay sau đó, còn Đạo luật về Nhân quyền thì hôm nay vẫn nằm trong ngăn kéo Thượng viện. Thì ra cơ chế chính trị, cơ chế làm luật ở Hoa Kỳ rất không đơn giản. Khác với ta. Hiểu được, ta sẽ bình tĩnh hơn.

Trong vụ rắc rối với cá basa, cá tra xuất khẩu của Việt Nam. Ngay từ đầu chính quyền của Tổng thống Bush nói rõ là chính quyền không đồng tình việc gây khó khăn cho cá basa, cá tra Việt Nam vào Hoa Kỳ vì quan hệ kinh tế - thương mại mới được bình thường hóa. Nhưng rồi, với “tài ba” của các nhà tư vấn Hoa Kỳ đứng sau lưng Hiệp hội những người nuôi cá Hoa Kỳ, chuyển thành sức ép của Quốc hội. Cuối cùng Tổng thống Bush, ngày 13 tháng 5 năm 2002, cũng phải ký Đạo luật về An ninh trang trại và đầu tư Nông thôn, trong đó có một mục nhỏ là chỉ có cá loại da trơn của Hoa Kỳ mới được mang tên “catfish”. Việc này sẽ gây khó khăn cho cá da trơn Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ và là trái với điều chính quyền Bush mong muốn trước đó. Thì ra không phải Tổng thống nước Mỹ muốn cái gì cũng được, vì việc gì cũng còn phụ thuộc vào quá trình ràng buộc lợi ích, phân chia lợi ích trong tổng thể nền chính trị nước Mỹ. Là người ngoài có liên quan, ta phải hiểu sâu cái cơ chế đó, theo dõi sát các quá trình diễn biến đó, để tránh bớt những cái hại cho mình.

Dần dà ta cũng rõ hơn việc, tại sao, Việt Nam không hề bán phá giá cá phi-lê (file) đông lạnh vào thị trường Hoa Kỳ. Những người Mỹ làm việc ở Bộ Thương mại, ở Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, và ngay cả những người Mỹ đi kiện Việt Nam cũng hiểu rõ điều đó. Nhưng người kiện vẫn cứ kiện. Người xử vẫn cứ xử. Các quan chức Hoa Kỳ đã cam kết sẽ đảm bảo thực hiện đúng quy định của luật trong quá trình xử lý. Nhưng vấn đề phức tạp là ở chỗ Hoa Kỳ, cũng như ở bất cứ một nước nào khác, chính trị đã ẩn chứa ngay trong hệ thống luật lệ Hoa Kỳ. Và thế là, “người ngay” đã không được trắng án.

Chắc chắn vụ rắc rối với cá tra, cá basa sẽ làm cho những người nuôi cá Việt Nam thiệt hại nhiều. Doanh nghiệp thiệt hại tức là Nhà nước thiệt hại. Cũng nên mạnh dạn coi thiệt hại đó là khoản học phí mà chúng ta phải trả để học bài học về kinh tế thị trường. Những bài học ta học được qua vụ này là, đại loại như, bài học về luật pháp bảo vệ người sản xuất, người tiêu dùng như thế nào, bài học về mối quan hệ giữa lợi ích doanh nghiệp vào lợi ích Nhà nước, bài học về những kiến thức cần phải trang bị cho doanh nghiệp, doanh nhân và cán bộ, bài học về các hoạt động tư vấn và các công ty tư vấn trong nền kinh tế thị trường, bài học về cách thức và bước đi thâm nhập một thị trường mới v.v… và v.v…

Rõ ràng làm ăn với thị trường Hoa Kỳ, ta phải nghiên cứu luật lệ của họ, phải hiểu luật lệ và cách làm ăn của họ. Hội nhập vào kinh tế thế giới, chúng ta phải nghiên cứu luật lệ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và luật lệ các nước. Chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường, ta khiêm tốn học tập, học hỏi. Cứ cái gì của ta cũng là “nhứt” cả thì khó thành công lắm, dễ vấp ngã lắm.

Cũng có người bảo, Hoa Kỳ là nước giàu, nước mạnh. Giàu mạnh nên rất khó chơi, Hoa Kỳ lại đang chi phối luật chơi của cả thế giới. Chúng ta cố mà chơi với đối tác khó chơi này, khi đã chơi được với Hoa Kỳ rồi thì chúng ta dễ dàng chơi được với bất cứ đối tác nào khác. Và nghĩa là lúc đó chúng ta đã giỏi. Và có giỏi thì đất nước chúng ta mới phát triển được. Không có cán bộ giỏi, không có doanh nhân giỏi, chúng ta còn thua thiệt dài dài…

Việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ trên những nguyên tắc, quy định của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Nếu thực hiện đầy đủ những nghĩa ta cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ tức là chúng ta đã thực hiện được khoảng 65 - 70% nghĩa vụ mà chúng ta sẽ phải thực hiện theo quy định của WTO. Nghĩa vụ của chúng ta ở đây là gì? Là từng bước mở cửa thị trường cho thông thoáng hơn (bỏ dần các rào cản, ngăn sông cấm chợ), là phải bổ sung, điều chỉnh và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật của nước ta cho phù hợp với các luật chơi chung trong nền kinh tế thế giới.

Năm vừa qua, trên cơ sở những quy định của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, ta đã tổ chức rà soát các văn bản pháp luật của ta. Qua cuộc rà soát này, ta vui mừng thấy rằng, hệ thống luật lệ của ta đã đổi mới cơ bản theo đúng đường lối đổi mới của Đảng ta, nhưng đồng thời ta cũng thấy được rằng, muốn có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, ổn định để cho các hoạt động kinh tế đi vào nề nếp, để phát huy đầy đủ các tiềm năng kinh tế đất nước, cũng như đầu tư nước ngoài - như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra - ta còn phải làm rất nhiều việc. Hàng chục, hàng trăm văn bản bản pháp luật phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Có luật là một bước, luật như thế nào, thực thi trong thực tế ra sao, là những bước quan trọng hơn. Xét về lâu dài, thì việc làm này (hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật) là cái đem lại lợi ích lớn lao hơn cả, là cái lâu bền hơn cả. Và đó là cái được lớn hơn cả. Qua đó, ta thấy được tầm nhìn xa, tầm nhìn thời đại của Đảng ta trong chủ trương chủ động hội nhập kinh tế và trong quyết định ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website