nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

DÙ KHÓ KHĂN ĐẾN MẤY ĐẢNG TA CŨNG DẪN DẮT SỰ NGHIỆP HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN THÀNH CÔNG

NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Tạp chí Khoa học và công nghệ của Nghệ An
số 06-2005 ngày 16/11/2005
 

Đầu xuân năm Ất Dậu (2005), chúng ta phấn khởi đón tin vui là Chính phủ ta sẽ phấn đấu đàm phán để đến cuối năm 2005, nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng các nước Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tại Hồng Kông, Việt Nam sẽ được kết nạp vào Tổ chức này, hoàn tất thủ tục cuối cùng của hội nhập kinh tế của Việt Nam.

Năm qua, Đoàn đàm phán của ta, với đội hình hùng hậu, bay đi khắp nơi, châu Âu, châu Á, châu Mỹ… để đàm phán đa phương, đàm phán song phương và đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Những ngày cuối năm, các phương tiện thông tin báo chí lại đưa tin là nay ta không đặt ra mục tiêu, ngày nào, tháng nào ta gia nhập WTO và khi nào đáp ứng các điều kiện của ta thì ta mới vào. Chúng ta không gia nhập WTO bằng bất cứ giá nào.

Qua đó chúng ta mới thấy sự nghiệp hội nhập kinh tế thực ra không phải chỉ là những mùa hái quả. Phải chăng công việc gieo trồng chăm bón cây lâu nay chưa được làm đến nơi đến chốn? Ta thử điểm lại tình hình xem sao.

Đường lối chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế là rõ ràng

Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã xác định nhiệm vụ: "Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế". Và sau đó, Đại hội Đảng lần thứ IX lại khẳng định chủ trương "Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nội lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững".

Thực hiện đường lối chủ trương trên của Đảng, thập kỷ qua nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong việc mở rộng quan hệ kinh tế song phương, đa phương, bình thường hóa với các tổ chức kinh tế quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), gia nhập Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC…

Còn lại một việc rất quan trọng là đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.

Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 07- NQ/TW ngày 27 tháng 11 năm 2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế trong đó nói rõ mục tiêu hội nhập, những quan điểm chỉ đạo hội nhập, và đặc biệt là những nhiệm vụ cụ thể mà toàn Đảng, toàn dân ta phải làm trong quá trình hội nhập.

Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời đại ngày nay "toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh". (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX).

Trong thời đại ngày nay, bất cứ một quốc gia nào, dù lớn, dù bé, dù giàu, dù nghèo, muốn phát triển phải hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Để hội nhập thành công, Đảng ta kiên quyết sẽ khắc phục tình trạng tụt hậu, yếu kém, trước hết là trong tư duy, nhận thức

Toàn cầu hóa kinh tế, công nghệ thông tin, Internet đã và đang làm thay đổi một cách sâu sắc nền kinh tế thế giới, đang tạo ra trong nền kinh tế thế giới một cuộc chạy đua, một cuộc cạnh tranh khốc liệt.

Hội nhập kinh tế quốc tế là đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới đang thay đổi mau lẹ đó, để cho nền kinh tế Việt Nam trở thành một nền kinh tế có sức cạnh tranh, và để cạnh tranh, để phát triển cùng thời đại, để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Tất cả chúng ta ai cũng hiểu rõ là về trình độ trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế, thế giới đã bỏ Việt Nam quá xa, đặc biệt trong các ngành kinh tế hiện đại như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới và nhiều ngành dịch vụ…

Đảng ta chủ trương, để đuổi kịp, ta sẽ đi tắt đón đầu. Muốn đuổi kịp, muốn đi tắt đón đầu, trước hết, ta phải có hệ thống chính sách đúng, chính sách phải đi trước một bước. Muốn có chính sách đúng phải đổi mới tư duy chính sách, phải có năng lực hoạch định chính sách.

Tư duy chính sách, năng lực hoạch định chính sách của Việt Nam, do lực kéo quán tính của tư duy bao cấp, hành chính, hiện nay còn rất lạc hậu, thậm chí còn tụt hậu hơn cả trình độ trang bị kỹ thuật.

Chúng ta đang sống ở những năm đầu thế kỷ XXI mà trong nhiều quy trình, nhiều cung đoạn hoạch định chính sách, chúng ta vẫn hành động như đang ở những năm đầu thế kỷ XX, cụ thể:

- Trong lúc thế giới đang ra sức đẩy nhanh công cuộc tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường, mở cửa nền kinh tế, mở cửa càng thông thoáng thì kinh tế càng phát triển, những nước có nền kinh tế mở không có nước nào nghèo, thì ở Việt Nam, chúng ta cứ mở mở, khép khép. Mở không ra mở, khép không phải khép, lúc nào cũng sợ mất mà không biết mất cái gì. Thiếu hẳn lòng tự tin vào bản thân mình. Chúng ta cứ nuối tiếc, không hề muốn vứt bỏ đi những chính sách đã lỗi thời như chính sách bảo hộ, chính sách thay thế hàng nhập khẩu. (WTO chống chính sách bảo hộ, chống chính sách thay thế hàng nhập khẩu vì chính sách đó làm cho các nhà sản xuất trong nước cồng kềnh, không hiệu quả, cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời và nếu tất cả các nước đều áp dụng chính sách bảo hộ thì thị trường thế giới sẽ bị thu hẹp và kinh tế thế giới trở nên trì trệ).

Chúng ta đang cố bảo hộ một số ngành kinh tế mà bản thân ta không hề có lợi thế so sánh. Việc bảo hộ đó chỉ để cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam và cả nhà nước Việt Nam những sản phẩm có chất lượng kém hơn chất lượng quốc tế và với giá cả cao hơn nhiều giá cả thế giới. Sự bảo hộ đó vừa làm mất đi động lực đổi mới công nghệ, vừa gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia. Điển hình ở đây có thể nói đến sự bảo hộ ngành ô tô ở Việt Nam. Hàng chục năm nay, người tiêu dùng Việt Nam, các cơ quan Nhà nước Việt Nam cứ phải bỏ tiền ra mua ô tô "Việt Nam" với giá cao gấp 2, 3, 4 lần giá thế giới. (Một chiếc xe Altis ở Trung Quốc bán 10.500 USD, ở Việt Nam phải mua tới 37.300 USD). Ngành ô tô đang được bảo vệ cao bằng các hàng rào thuế và phi thuế chỉ vì để nuôi một ước mơ là trong tương lai nước ta có ngành ô tô. Các nước xung quanh như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan bằng cách đó họ đã xây dựng được ngành ô tô của mình. Họ đã xây dựng ngành ô tô từ những năm 70 của thế kỷ trước. Nhưng hôm nay là thời đại tự do hóa thương mại liệu ước mơ của ta có đến không và bao giờ mới đến khi mà chẳng bao lâu nữa, theo lộ trình hội nhập, ta mở cửa cho thế giới đưa ô tô vào bán buôn, bán lẻ, khi người ta đang thực hiện "nội địa hóa rổm" như báo chí đã vạch ra?

- Thời đại toàn cầu hóa là thời đại nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt. Có cạnh tranh thì kinh tế mới phát triển. Cạnh tranh là động lực của phát triển.

Để tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế, trên thế giới, người ta xây dựng và nuôi dưỡng bầu không khí cạnh tranh mạnh và lành mạnh. Người ta sẵn sàng nhanh chóng cho thải đi những công ty làm ăn thua lỗ, hỗ trợ cho những công ty làm ăn tốt để họ làm tốt hơn. Người ta tăng cường khu vực tư nhân, hạn chế độc quyền trong các ngành kinh tế nội địa. Người ta giảm biên chế bộ máy quan liêu cồng kềnh, xoá nạn tham nhũng móc ngoặc. Còn Việt Nam ta vẫn cố kéo dài việc thực thi một chính sách có phân biệt đối xử, hạn chế cạnh tranh. Việt Nam đang giãn nợ, xoá nợ, giảm miễn thuế đất cho các doanh nghiệp quốc doanh, trong lúc với các đối tượng khác thì không. Việt Nam đang dồn vốn cho các doanh nghiệp quốc doanh, trong đó có cả những doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh rất thấp, nợ nần rất nhiều, thua lỗ rất lớn và thất thoát tham nhũng cũng rất ghê. Chả nhẽ chúng ta tin rằng những doanh nghiệp như vậy sẽ "chiếm vai trò chủ đạo" trong nền kinh tế nước ta thời hội nhập?

- Trong lúc thế giới hôm nay, người ta đua nhau phát triển bằng tốc độ, như: Tốc độ sáng tạo; Tốc độ Internet hoá; Tốc độ kết nối mạng.

Tốc độ phát triển ngày nay người ta thường tính bằng tháng, bằng năm. Xri lan-ca thực hiện chương trình ba năm phổ cập Internet tận trường trung học. Ma-lai-xi-a 5 năm xây dựng xong xa lộ thông tin. Ở Việt Nam, tốc độ nói chung đều tính bằng thập kỷ. Tốc độ trong kế hoạch thì tính bằng thập kỷ. Tốc độ trong thực thi thì dài hơn nhiều. Điển hình là tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Có thể nói tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là một tốc độ chưa từng có trong lịch sử cổ phần hóa của nền kinh tế thế giới. 15 năm quyết liệt cổ phần hóa mà chỉ cổ phần hóa được 9% tổng số vốn, 91% tổng số vốn còn lại nay định quyết liệt xử lý trong 4 năm liệu sẽ là một hiện thực? Ấy là chưa nói đến việc mà báo chí đã nhắc nhở là việc người ta đang thông đồng với nhau để song song với cổ phần hoá, thực hiện "tư túi hóa" tài sản của Nhà nước không phải là cá biệt.

- Từ lâu, thế giới đã xóa bỏ được độc quyền cấp vốn của giới ngân hàng. Người ta đã đa dạng hóa, phong phú hóa các nguồn cấp vốn khác nhau cho nền kinh tế thông qua mua bán cổ phần cổ phiếu tại các thị trường chứng khoán. Còn ở Việt Nam, cuộc thai nghén để đẻ ra thị trường chứng khoán là một cuộc thai nghén quá dài. Sau một thập kỷ trăn trở, mới cách đây vài tháng, cái gọi là Trung tâm giao dịch chứng khoán ở Hà Nội mới được đốt pháo khai hoa. Vẫn là một hài nhi yểu tướng và chừng nào công cuộc cổ phần hóa khoản 91% tổng số vốn còn lại của doanh nghiệp Nhà nước còn uể oải thì thị trường chứng khoán cũng chưa thể là cây đa rợp bóng. Và do vậy, các ngân hàng, chủ yếu là ngân hàng quốc doanh vẫn là nơi độc quyền cấp vốn theo cơ chế "xin - cho".

- Trong lúc trên thế giới, một sinh viên tốt nghiệp đại học, thậm chí chưa tốt nghiệp, muốn khởi nghiệp bằng một doanh nghiệp, anh ta (hoặc chị ta) chỉ cần mấy thứ:

+ Một máy vi tính cá nhân.

+ Một thẻ tín dụng.

+ Một đường dây điện thoại, một đường truyền Internet, một trang Web và một tài khoản chuyển tiền nhanh qua bưu điện.

Ngồi ở nhà, anh ta (hoặc chị ta) xử lý thủ tục đăng ký lập công ty qua mạng, mất mấy tiếng đồng hồ, anh ta có thể bắt đầu khởi nghiệp. Qua một đêm, anh ta có thể trở thành một nhà cạnh tranh trên thị trường trong nước và cả trên thị trường quốc tế. Trong lúc đó ở Việt Nam, muốn lập một công ty phải gõ cửa hàng chục cơ quan, phải xin hàng chục giấy tờ, phải mất khá nhiều thời gian, chi khá nhiều tiền, tốn khá nhiều sức. Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 43 ngày 20 tháng 10 năm 2005 cho biết hiện còn tồn tại gần 300 loại giấy tờ khác nhau mà các bộ, ngành quản lý đang đòi các doanh nghiệp phải chạy xin, phải nộp đủ mới được làm ăn. Đấy là ở cơ quan Trung ương, về địa phương còn "sướng" hơn nữa. Cũng theo số báo trên, có địa phương, có hợp đồng hồ sơ xin thuê đất phải có tới 40 con dấu và chữ ký.

- Toàn cầu hóa kinh tế, công nghệ thông tin, Internet đã tạo ra một thế giới có quan hệ kinh tế chồng chéo, đan xen. Trước đây ta suốt ngày bảo các nước đế quốc, thực dân dùng chính sách thực dân cũ rồi dùng chính sách thực dân mới biến các nước nghèo thành nơi cung cấp nguyên liệu cho nước giàu, cho chính quốc. Nay họ không làm chuyện "chở củi về rừng" đó nữa. Các nước đang phát triển, anh nào giỏi thì lôi họ về, đưa vốn, đưa kỹ thuật vào khai thác và chế biến tài nguyên ngay tại chỗ rồi cùng hưởng thành quả, hai bên cùng phụ thuộc lẫn nhau.

Kỹ thuật phát triển đã cho phép các tập đoàn xuyên quốc gia thực hiện tối ưu hóa dây chuyền giá trị của họ trên phạm vi toàn cầu, cho phép họ khai thác triệt để các lợi thế so sánh từng khu vực, từng quốc gia để quyết định địa điểm đặt các cung đoạn của quy trình sản xuất. Tập đoàn Nike của Mỹ chẳng hạn, ở Việt Nam có 9 nhà máy sản xuất giày thể thao, 30 nhà máy sản xuất trang phục thể thao, 130 ngàn công nhân. Năm 2004 họ xuất khẩu khoảng 782 triệu đô la, chiếm 3% tổng ngạch xuất khẩu Việt Nam. Nhưng ở Việt Nam họ chỉ có một văn phòng gồm một số chuyên viên kiểm tra kiểm định chất lượng hàng hóa tại chỗ, 39 nhà máy nói trên không thuộc sở hữu Nike, nó thuộc sở hữu các ông chủ Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và Việt Nam. Các nhà máy này gắn với Nike bằng quan hệ đối tác và do Nike giữ bản quyền sản phẩm Nike, Nike quyết định mẫu mã, thiết kế, vật liệu… Sản xuất thì ở Việt Nam, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a; những nơi có giá nhân công rẻ, tiêu thụ dễ thì ở châu Âu và châu Mỹ; chỉ đạo thì từ trụ sở đóng ở Mỹ, phòng thiết kế mẫu mã đóng ở Mỹ và Nike điều hành toàn bộ hệ thống này khắp thế giới qua mạng. Mùa nào, tháng nào, ngày nào sản xuất cái gì, theo mẫu mã nào đều từ Mỹ điều hành qua mạng. Hàng gì, xuất khẩu đi đâu, số lượng bao nhiêu, từ Mỹ chỉ đạo qua mạng.

Thế giới đã ràng buộc với nhau như vậy, nền kinh tế thế giới đã đan xen như vậy, thế mà ở xứ ta vẫn còn những xu hướng muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ" theo quan niệm truyền thống trước đây. Muốn có ngành ô tô riêng, ngành chế tạo máy riêng, ngành đóng tàu riêng, thậm chí còn muốn có ngành chế tạo máy bay riêng... Và lúc nào chúng ta cũng sợ "chệch hướng". Nhưng, cái gì phải đến, nó cứ đến. Ngày nay thị trường là nơi quyết định sản xuất cái gì, bao nhiêu và hàng hóa như thế nào. Người làm chiến lược, kế hoạch phải có cái nhìn của thời đại, mới đẻ ra được sản phẩm chiến lược kế hoạch mang tính thời đại.

- Toàn cầu hóa và Internet đang tạo cho cả thế giới một "thư viện toàn cầu" để đọc sách, nghiên cứu, bất kể vấn đề gì anh quan tâm. Không ai canh giữ Internet cả. Không ai độc quyền thông tin được. Anh nào thông minh, anh nào chịu khó đọc, anh đó nhiều thông tin hơn. Thông tin đầy đủ hơn thì ra quyết định chính xác hơn.

Do đó, thời đại ngày nay, quan hệ giữa thủ trưởng và nhân viên là quan hệ đồng nghiệp, là quan hệ chia sẻ, chia sẻ thông tin, chia sẻ trách nhiệm và quyền lực trong quá trình ra quyết định và thực thi nhiệm vụ. Quan hệ đó vừa đảm bảo mỗi người hoàn thành trách nhiệm ở cương vị của mình, vừa tạo ra bầu không khí sáng tạo và nối tiếp nhau sáng tạo. Nhưng ở ta, nhiều nơi, nhất là trong các cơ quan Nhà nước, trong các xí nghiệp quốc doanh, lãnh đạo, giám đốc cứ nghĩ mình là người độc quyền nắm thông tin (như trước đây) và mình là người ra mệnh lệnh (như trước đây) cấp dưới chỉ có nhiệm vụ chấp hành (như trước đây). Tình hình đó tạo ra một bầu không khí căng thẳng trong cơ quan, không phục nhau, không tin nhau, tài năng không được trọng dụng, đối phó nhau và cả trù dập nhau…

Tóm lại, toàn cầu hóa không phải là một sự lựa chọn, đó là một thực tế. Ngày nay chỉ có một thị trường toàn cầu hoá. Con đường duy nhất để đưa đất nước phát triển là hội nhập vào dòng thác toàn cầu hoá, vào nền kinh tế thế giới. Con đường đó nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức mà thách thức lớn nhất, theo điều răn thứ nhất của Đức Phật "Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình". Sự tụt hậu về tư duy kinh tế, về năng lực hoạch định chính sách cùng với những lợi ích bám giữ "quyền quản lý" của các cơ quan công quyền đang tạo ra một sức cản cực kỳ nặng, ngáng trở những bước tiến trong công cuộc hội nhập và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Nếu không khắc phục được tình trạng này, mãi mãi dân ta phải cam chịu cuộc sống nghèo hèn, thế giới thì bứt phá vươn lên phía trước. Và Việt Nam ta tiếp tục giữ vững danh hiệu là một trong những nước nghèo nhất Trái Đất này.

Quyết tâm khắc phục tình trạng lạc hậu về tư duy và nhận thức đã được Đảng ta nói rất rõ trong Dự thảo Đề cương báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ X.

Đảng ta đang chỉ đạo chặt chẽ cuộc đổi mới hệ thống
pháp luật

Ngày nay, Hội nhập kinh tế quốc tế là vào chơi sân chơi chung của nền kinh tế thế giới. Vào sân chơi chung phải chơi theo luật chơi trên sân. Luật chơi chung khác với luật chơi lâu nay ta vẫn chơi. Luật chơi chung đó sẽ chi phối quá trình xây dựng luật pháp kinh tế của ta cũng như phương thức điều hành nền kinh tế của ta từ nay về sau.

Sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) được ký kết, năm 2001 Chính phủ ta đã triển khai một cuộc tổng rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và đối chiếu với các cam kết trong BTA và quy định của WTO. Chỉ mới rà soát các luật và các văn bản dưới luật ban hành ở cấp bộ, ngành, trung ương, chúng ta đã phát hiện được nhiều điều quý giá, và đã thấy luật ta khác với luật thế giới nhiều.

- Trong lúc trên thế giới, luật pháp là hành lang pháp lý, một hành lang vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng rõ ràng để mọi cá nhân, tổ chức, mọi thành viên trong xã hội phát huy đầy đủ tài năng, trí tuệ, kiến thức của mình để làm giàu, làm giàu cho mình, làm giàu cho đất nước, thì hệ thống pháp luật của chúng ta chủ yếu là để xác lập và củng cố quyền quản lý của các cơ quan Nhà nước, trói chặt các doanh nghiệp. Ai muốn làm gì phải xin . Các cơ quan quản lý cho làm gì được làm cái đó, cho phép đến đâu được làm đến đó. Quy trình xin - cho quá phức tạp, nhiều ngóc ngách. Điển hình là, tại Quốc hội khóa XI, Bộ trưởng Tài nguyên môi trường, khi giải trình trước Quốc hội về tình hình quá phức tạp trong vấn đề nhà, đất, đã đưa ra một thông tin thật đáng suy nghĩ: hiện nay ở Việt Nam có những trên 200 văn bản dưới luật của các bộ, ngành khác nhau có quy định về chế độ quản lý đất đai, chưa tính đến các quy định về đất đai trong Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự và Luật Thuế nông nghiệp…

- Trong khi pháp luật các nước, tuy đồ sộ, nhưng các quy định, các tiêu chí rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực thi, thì luật pháp Việt Nam"chung chung, chồng chéo, chỗ thừa, chỗ thiếu, không đồng bộ, khó thực thi". Luật sư Chánh án Toà án nhân dân tối cao Trịnh Hồng Dương khi trả lời câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội khóa X, về việc tại sao Toà án ta xử oan, xử sai nhiều thế, ông nói bởi vì: "Luật ta hiện nay xử thế nào cũng được". Những quy định về hợp đồng dân sự thì theo Luật Dân sự, hợp đồng kinh tế thì theo Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại thì theo Luật Thương mại, những quy định trong các văn bản này lại mâu thuẫn phủ định nhau không thể thực thi…

- Trong lúc luật pháp của các nước là một mặt bằng pháp lý áp dụng chung cho mọi loại hình tổ chức kinh tế thì luật lệ của nước ta được thiết kế theo nguyên tắc phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu: quốc doanh riêng, hợp tác xã riêng, tư nhân riêng, trong nước riêng, ngoài nước riêng…

Sau cuộc tổng rà soát pháp luật nói trên, hầu như toàn bộ các văn bản pháp luật của ta liên quan đến hoạt động kinh tế thương mại đều phải bổ sung, điều chỉnh. Nói là sửa đổi bổ sung, nhưng thực tế là gần như viết lại, đặc biệt là các Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp…

Ngoài việc sửa đổi, bổ sung, để hội nhập có kết quả và việc hội nhập đang thúc ép chúng ta ban hành những văn bản pháp luật mà trước đây trong nền kinh tế bao cấp chúng ta chưa hề dám nghĩ đến như Luật Cạnh tranh, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Đấu thầu…

Nhiều văn bản pháp luật vừa sửa đổi xong nay lại phải sửa lại vì trong quá trình soạn thảo, các cơ quản lý (cũng là cơ quan soạn thảo luật) vẫn có xu hướng bám giữ "quyền quản lý" của mình, đề ra những tiêu chí khó thực thi, làm khó dễ cho các doanh nghiệp. Quá trình đổi mới hệ thống pháp luật còn lâu dài, Đảng ta sẽ chỉ đạo sát sao, chặt chẽ cho đến lúc hệ thống luật lệ Việt Nam thành một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định, tương thích với luật chơi thế giới.

Như vậy, để công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế thành công, Đảng ta đang tập trung chỉ đạo:

1. Đổi mới hệ thống pháp luật, trong đó có việc làm cho nó tương thích với luật pháp quốc tế.

2. Đổi mới cách quản lý điều hành nền kinh tế. Đoạn tuyệt với cách điều hành theo cơ chế hành chính bao cấp, thực hiện điều hành theo cơ chế thị trường.

3. Đổi mới trang thiết bị công nghệ cho nền kinh tế.

4. Trước hết, và quan trọng hơn hết là đổi mới tư duy, nhận thức.

Hội nhập kinh tế quốc tế, đối với Việt Nam là một cuộc đổi mới sâu sắc hay có thể nói, đó là một cuộc thay máu, thay máu để có một cơ thể kinh tế khoẻ mạnh hơn, phát triển nhanh hơn./.

 

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website