nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 2
Lượt thứ       : 72654

VIỆT NAM VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ

NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Nghệ An ngày 14/12/2005

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thiết lập ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ và chào mừng chuyến đi thăm Hoa Kỳ sắp tới của Thủ tướng Phan Văn Khải, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ của Nghệ An có phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lương, Nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ kinh tế giữa hai nước.

- Phóng viên(PV): Ngày 11 tháng 7 năm 2005 sẽ là ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ. 10 năm qua quan hệ hai nước đã gặt hái được nhiều thành quả, theo ông, thành quả gì là to lớn hơn cả, quan hệ hơn cả?

- Ông Nguyễn Đình Lương (NĐL): Thành quả lớn nhất là hai bên đã vượt qua muôn vàn khó khăn để đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại (BTA) lịch sử, làm cơ sở cho quan hệ kinh tế thương mại hai nước phát triển.

- PV: Sau 3 năm thực hiện BTA, ông thấy nên đánh giá được, mất, thắng, thua như thế nào?

- Ông NĐL: Khi BTA được ký kết tháng 7 năm 2000, chưa ai có thể hình dung được là sự thể sẽ diễn ra như thế nào, nhưng thấy báo chí nước ngoài người ta bảo “Win - Win” (cả hai phía cùng thắng) tôi cũng hô lên là “Win - Win”. Thực ra ở thời điểm đó, ở Việt Nam có nhiều người lo lắng: Mỹ giàu, Mỹ mạnh, Mỹ nhiều hàng, hàng Mỹ tốt. Việt Nam còn yếu, kinh tế Việt Nam kém phát triển, hàng hóa Việt Nam vừa ít vừa kém, Việt Nam chỉ có thua.

Hôm nay, sau 3 năm thực hiện, không thấy ai nói Việt Nam thua. Xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ tăng nhanh quá. Chỉ cần hơn một năm thực hiện BTA thị trường Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu số 1 của Việt Nam. Hoa Kỳ đang nhập trên 22% hàng xuất khẩu của Việt Nam. Hoa Kỳ vừa là thị trường xuất khẩu số 1 vừa là thị trường xuất siêu lớn nhất của Việt Nam. Một loạt ngành kinh tế Việt Nam đang tạo được đà phát triển mới như may mặc, giày dép, hải sản, đồ gỗ, hàng điện tử, thủ công mỹ nghệ,…

- PV: Cứ coi ông là một trong những người hiểu rõ nhất nội dung BTA, vậy theo ông thắng lợi nào là lớn nhất, quan trọng nhất mà BTA đang đem lại cho Việt Nam?

- Ông NĐL: Trả lời câu hỏi này, sẽ khác nhau ở những người khác nhau, tùy theo góc nhìn và tầm nhìn. Riêng tôi, tôi cho rằng thắng lợi quan trọng nhất mà BTA mang lại cho Việt Nam là BTA vừa ràng buộc, vừa làm cơ sở để Việt Nam bổ sung điều chỉnh và hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật của mình, làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam trở thành một hệ thống luật pháp đồng bộ, thống nhất, ổn định và làm cho hệ thống luật pháp Việt Nam tương thích với hệ thống luật pháp quốc tế hiện đại.

Sửa đổi điều chỉnh luật pháp sẽ kéo theo sự điều chỉnh thay đổi cách quản lý điều hành nền kinh tế sao cho phù hợp với yêu cầu quản lý một nền kinh tế thị trường.

Xây dựng một hệ thống luật pháp thống nhất đồng bộ, ổn định phù hợp với luật pháp quốc tế vừa là việc làm cần thiết cho hiện nay và cho cả ngày mai. Trong tương lai, khi có một hệ thống luật pháp như vậy, những bước đi của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế sẽ vững vàng, tự tin hơn, hiệu quả hơn, và khai thác tốt hơn khả năng của nền kinh tế nhiều thành phần.

Sau khi BTA được ký kết, Chính phủ ta đã triển khai ngay công việc này. Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, tổng rà soát tất cả các văn bản pháp luật đã ban hành, đối chiếu với những cam kết trong BTA và những quy định trong WTO, và lập kế hoạch chương trình bổ sung, điều chỉnh, xây dựng pháp luật. Cuộc tổng rà soát đó, dù chỉ mới làm ở cấp Trung ương, đã giúp ta phát hiện được rằng hệ thống luật lệ của chúng ta quả còn nhiều khiếm khuyết, rằng cần phải khẩn trương bổ sung, điều chỉnh, xây dựng…

Chúng ta đã ban hành những văn bản pháp luật mang hơi thở thời đại như: Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh,… chúng ta đang thực hiện đồng bộ hóa một bước luật lệ qua việc sửa đổi bộ luật dân sự, luật thương mại, luật hình sự,…và tới đây sẽ thống nhất các quy phạm điều chỉnh hoạt động đầu tư trong một luật đầu tư thống nhất, thống nhất các quy định về các hoạt động của mọi loại hình công ty trong một luật doanh nghiệp thống nhất,…

Tuy nhiên, giá như Việt Nam ta biết tranh thủ cơ hội khẩn trương hơn trong việc xây dựng bổ sung luật pháp, thì cơ hội thành công của ta trong hội nhập sẽ nhiều hơn. Quá trình thực hiện điều chỉnh bổ sung pháp luật càng lâu, lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước càng giảm, cơ hội thành công của hội nhập càng ít.

- PV: Nhân dịp đánh giá 3 năm thực hiện BTA thông qua mạng Internet, có người từ nước Mỹ nói rằng “3 năm thực hiện BTA là 3 năm Việt Nam xuất siêu, xuất khẩu Hoa Kỳ vào Việt Nam thực tế không đáng kể, và họ đề nghị phía Hoa Kỳ cần có biện pháp để chấm dứt tình trạng này. Ông có bình luận gì về ý kiến này không?

- Ông NĐL: Tôi biết có ý kiến đó. Tôi cho ý kiến đó chỉ là ý kiến cá nhân. Ở Mỹ ai cũng thích bày tỏ ý kiến cá nhân.

Hoa Kỳ là nước chủ trương cổ xúy cho tự do hóa thương mại. Đặc điểm nổi trội nhất trong thương mại Hoa Kỳ là luôn luôn nhập siêu hàng hoá, xuất siêu dịch vụ. Nhập siêu hàng hóa của Hoa Kỳ chủ yếu từ các bạn hàng lớn. Có những nước, đã hàng chục năm nay rồi, mỗi năm họ xuất siêu sang Hoa Kỳ hàng chục, hàng trăm tỷ USD và hôm nay họ lại càng xuất siêu nhiều hơn.

Xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ có tăng nhanh. Khối lượng xuất khẩu đó là quan trọng đối với Việt Nam, nhưng nó lại quá nhỏ bé trong nhập khẩu Hoa Kỳ. Thị trường Việt Nam là thị trường tiềm năng, xuất khẩu Hoa Kỳ vào thị trường Việt Nam sẽ tăng nhanh khi đầu tư Hoa Kỳ và nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn.

Ngoài ra, tôi không nghĩ rằng ở Hoa Kỳ có những quan chức sẵn sàng làm những điều gì đó “quá tay” đối với Việt Nam. Lịch sử hai nước đã để lại những vấn đề mà bất cứ một người Mỹ có lương tâm nào cũng phải áy náy về những món nợ mà nước Mỹ chưa trả được cho dân tộc Việt Nam.

- PV: Tác động của BTA vào lĩnh vực đầu tư, cụ thể là đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam như thế nào?

- Ông NĐL:Khi ký kết BTA ta trông đợi rất nhiều về nguồn vốn đầu tư từ Hoa Kỳ. Nhưng kết quả hôm nay không như mong muốn. Tính đến hết năm 2004, vốn đầu tư trực tiếp thực hiện của các công ty Hoa Kỳ đóng ở Hoa Kỳ và đóng ở cả các nước thứ 3 vào Việt Nam khoảng trên 2,6 tỷ USD, đứng hàng thứ 4 sau Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Nhưng nếu chỉ tính đầu tư của các công ty từ Hoa Kỳ vào thẳng Việt Nam thì rất ít, chỉ trên 700 triệu USD, chỉ bằng 0,7% lượng đầu tư Hoa Kỳ vào khu vực Đông Nam Á.

Đầu tư vào ít có thể có nhiều lý do, trong đó trước hết là: sức hút đầu tư của thị trường Trung Quốc, sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO quá lớn. Sự quan tâm của các nhà đầu tư trên thế giới, trong mấy năm vừa qua, hầu như chủ yếu dồn về Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến… So với Trung Quốc bên cạnh thì thị trường Việt Nam rất nhỏ.

Thứ nữa, tính minh bạch trong hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành đầu tư ở Việt Nam quá thấp, tạo cho các nhà đầu tư cảm giác sợ rủi ro. Các nhà đầu tư ở các nước phát triển Âu - Mỹ, nơi mà tính minh bạch trong hệ thống pháp luật cao, họ sợ cảnh “ đục nước béo cò”, do đó họ chần chừ. Kỳ này Quốc hội ta đang quyết liệt sửa luật. Hi vọng tình trạng này sớm được khắc phục để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm rút tiền trong túi ra kinh doanh.

- PV: Ông có bình luận gì về Hiệp định Thương mại với lĩnh vực khoa học công nghệ?

- Ông NĐL:Về câu hỏi này theo tôi phải trả lời làm 2 phần, phần thứ nhất về Chương sở hữu trí tuệ trong Hiệp định và phần thứ hai là phần hợp tác khoa học kỹ thuật giữa hai nước.

Chương sở hữu trí tuệ là một chương rất dài trong BTA. Rất vất vả, đoàn đàm phán Việt Nam mới đưa được chương này vào Hiệp định. Ở Việt Nam người phản đối cũng đông, và người ủng hộ cũng nhiều. Mỗi bên có lý lẽ riêng của mình. Ai cũng thấy mình đúng.

Người phản đối lập luận rằng: ngày xưa các nước tư bản thực hiện công nghiệp hóa bằng cách sao chép, ăn cắp phát minh sáng chế của người đi trước. Nay họ bắt ta cam kết bảo hộ tức là bắt ta phải bỏ tiền ra mua. Ta nghèo, ta lấy đâu ra tiền để mua công nghệ và trả tiền bản quyền các sản phẩm phần mềm,… Tốt nhất là không cam kết gì cả, để im ta đi ăn cắp về ta phát triển.

Những người ủng hộ lại có lập luận khác: sản phẩm trí tuệ là sản phẩm của những người có trí tuệ sáng tạo. Một bài thơ hay của nhà thơ, một bản nhạc hay của nhạc sĩ, một bài báo hay của nhà báo, một phát minh, sáng chế của kỹ sư… đều là những đứa con của họ. Họ trân trọng nó và họ có quyền đòi xã hội thừa nhận và đánh giá đúng giá trị. Nếu như ở ta hiện nay, hoặc được trả thù lao quá bèo bọt, hoặc cứ ra khỏi nhà là bị sao chép, bị ăn cắp, bị biến thành của người khác, thì không ai sáng chế, không ai sáng tác làm gì.

Một xã hội không biết trân trọng các sản phẩm trí tuệ, thì trí tuệ của xã hội đó sẽ không phát triển. Đặc biệt ngày nay thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, các sản phẩm trí tuệ càng phải được bảo vệ.

Thế giới ngày nay rất coi trọng việc bảo hộ các sản phẩm trí tuệ và đã có khá nhiều công ước quốc tế về lĩnh vực này. Vả lại, với những nước phát triển như Hoa Kỳ, sản phẩm trí tuệ, trước hết, đơn giản, nghĩa là tiền, là lợi ích doanh nghiệp, là lợi ích quốc gia (giá trị thương hiệu Coca Cola là hơn 75 tỷ USD; Microsoft là hơn 65 tỷ USD,…). Không chấp nhận ký chương sở hữu trí tuệ thì Hoa Kỳ cũng không ký Hiệp định Thương mại.

Tình hình hôm nay ở nước ta có khác rồi. Các hội như: Hội khoa học kỹ thuật, Hội nhạc sĩ, Hội nhà văn,…đều đã lên tiếng đòi được bảo hộ cho các tác phẩm của họ.

Luật lệ của ta về lĩnh vực này cũng đã có gần đủ, chỉ tiếc là không mấy ai đọc và không ai thực hiện vì không thực hiện được.

Vừa là do yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật trong nước vừa là do yêu cầu hội nhập, ta đang tích cực bổ sung và viết lại thành một luật sở hữu trí tuệ riêng và Quốc hội đang xem xét để kỳ họp cuối năm nay thông qua.

- PV: Còn vấn đề hợp tác khoa học công nghệ Việt Nam - Hoa Kỳ mà ông vừa nhắc đến?

- Ông NĐL:Lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thú thật, tôi dốt đặc. Tôi chỉ muốn nói rằng, anh thích hay không thích thì hôm nay Hoa Kỳ vẫn là trung tâm khoa học kỹ thuật của thế giới, ở đó có:

- 17/20 trường đại học nổi tiếng nhất thế giới.

- 70% phát minh sáng chế của thế giới.

- 20/29 lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn của thế giới.

- Những trung tâm khoa học lớn nhất, hiện đại nhất.

- Những phòng thí nghiệm lớn nhất, hiện đại nhất.

- Cứ 4 giải Nobel về khoa học kỹ thuật mỗi năm thì 3 giải thuộc về người Mỹ, còn giải thứ 4 của người nước khác nhưng trong lý lịch khoa học có ghi hoặc đã, hoặc đang là cộng tác viên của một trung tâm khoa học của Mỹ.

- Ngân sách cho nghiên cứu và phát triển của Mỹ bằng 3 lần ngân sách của 6 nước lớn nhất cộng lại (Pháp, Anh, Đức, Nga và Trung Quốc).

Phần lớn các nguyên tắc Nguyên thủ quốc gia và các chức sắc thứ, bộ trưởng, cũng như các nhà quản lý, các nhà khoa học ở các nước xung quanh ta đều được đào tạo tại Mỹ, và nay con cháu họ, con cháu những nhà giàu đều tìm cách đi học tại Mỹ. Thanh niên Việt Nam đi học ở Mỹ cũng ngày một đông.

Nói chung các nước đều có nhu cầu hợp tác khoa học công nghệ với Hoa Kỳ. Việt Nam ta nhu cầu đó ngày càng lớn. Tương lai của sự hợp tác khoa học công nghệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ có ngày phát triển.

- PV: Xin cám ơn ông./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website