nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 2
Lượt thứ       : 72654

NÊN TẬP TRUNG TÌM VÀ KHAI THÁC CÁI ĐƯỢC TỪ HỘI NHẬP

(Bài phỏng vấn ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ)

Q. THÀNH thực hiện

Báo Tiền phong, số Tết năm 2006

- Tiền Phong: Dù đã hoàn tất đàm phán với 23 đối tác nhưng Việt Nam vẫn chưa gia nhập được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) như kế hoạch đề ra. Ngồi nhìn Hội nghị Bộ trưởng các nước thuộc WTO tại Hồng Kông qua đi, nhiều người chạnh lòng.

“Sự nghiệp hội nhập kinh tế không phải chỉ là những mùa hái quả”. Ông Nguyễn Đình Lương - Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cho biết. Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam sẽ được tiếp tục như thế nào, cần làm thêm những gì?

Những trăn trở này của nhiều người cũng chính là nội dung cuộc trao đổi mà ông Lương đã dành cho Tiền Phong nhân dịp năm mới.

- Thưa ông, sau khi mục tiêu gia nhập WTO năm 2005 bất thành, chúng ta lại phải chờ khi nào thỏa thuận được thì ta vào. Quan điểm của ông ra sao?

Hội nhập kinh tế không phải chỉ là những mùa hái quả. Quá trình này trước tiên là sự nhận thức và tự nhận thức cho rõ. WTO là sân “mở”, nước nào có đủ điều kiện thì vào.

Không ai và không lý do gì ngăn cản được Việt Nam vào WTO nếu Việt Nam có đủ và chấp nhận các điều kiện mà WTO đặt ra. Theo tôi, điều kiện để Việt Nam gia nhập WTO cũng chính là điều kiện mà 21 nước đã gia nhập WTO từ năm 1995 đến nay đã chấp nhận.

Không có lý do để chấp nhận Việt Nam trở thành thành viên WTO với điều kiện thấp hơn điều kiện các nước nói trên. Đàm phán là để xác định các điều kiện đó chứ không phải để xin bất cứ điều gì.

- Toàn cầu hóa là xu thế khách quan. Vậy có phải bất cứ sự chậm chân nào cũng phải trả giá, thưa ông?

Đúng thế, toàn cầu hóa hay hội nhập là xu hướng phát triển khách quan, là hiện thực chứ không phải là sự lựa chọn. Toàn cầu hóa kinh tế, công nghệ thông tin, Internet đã làm cho nền kinh tế thế giới thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng phụ thuộc, gắn kết với nhau, đang tạo ra trong nền kinh tế một cuộc chạy đua, một cuộc cạnh tranh khốc liệt như một dòng nước xoáy.

Nếu cá thể nào đó không đi vào vòng xoáy hoặc không giỏi “bơi” trong vòng xoáy đó thì bị gạt ra. Nguy cơ bị loại khỏi cuộc chơi không phải là không có.

Hãy nhìn lại, chỉ riêng về lĩnh vực lập pháp, đủ thấy chúng ta cũng đã nhập cuộc và đang chạy đua với thời đại. Nhưng trong lúc trên thế giới, pháp luật là hành lang pháp lý, vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng để mọi cá nhân, tổ chức, phát huy đầy đủ tài năng, trí tuệ… để làm giàu cho mình và cho đất nước thì ở Việt Nam, hệ thống pháp luật, do quán tính từ thời bao cấp hành chính quan liêu, chủ yếu để xác lập và củng cố quyền quản lý của các cơ quan nhà nước, trói chặt các doanh nghiệp, thực hiện cơ chế xin - cho, ai muốn làm gì thì phải xin.

Các cơ quan quản lý cho doanh nghiệp làm gì thì họ được làm cái đó, cho phép đến đâu thì được làm đến đó. Yêu cầu của hội nhập đòi hỏi chúng ta tổng rà soát toàn bộ hệ thống luật pháp và thấy rõ các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động kinh tế, thương mại đều phải bổ sung, điều chỉnh, phải sửa đổi hết cho tương thích với luật chơi của thế giới.

- Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế là để có nền kinh tế mạnh hơn, có sức cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với thế giới. Vậy việc chậm gia nhập WTO có gây ra bất lợi cụ thể nào cho nền kinh tế và từng người dân?

Bàn về hội nhập, chúng ta nên tập trung vào việc phân tích, tìm kiếm và khai thác cái được, đừng thiên lệch về cái mất, thiệt hại, lúc nào cũng sợ mất nhưng có lúc không biết mất cái gì. Phải đánh đổi bằng những thiệt hại cho nông nghiệp ư?

Nông dân ở Hà Tây bỏ trồng ngô chuyển sang chăn nuôi lợn cho Công ty CP (Thái Lan) thu nhập cao gấp nhiều lần.

Chậm hội nhập cũng như chậm gia nhập WTO đồng nghĩa với việc chúng ta cố bảo hộ một số ngành kinh tế mà bản thân ta không hề có lợi thế để so sánh.

Kết quả là nhận về những sản phẩm có chất lượng kém, giá cao hơn nhiều so với hàng hóa cùng loại trên thế giới. Lâu nay, báo chí mổ xẻ, phân tích khá nhiều về vấn đề bảo hộ ngành đường và ngành ô tô của Việt Nam là những ví dụ.

Một so sánh khác: trong khi thế giới sẵn sàng nhanh chóng cho thải đi những công ty làm ăn thua lỗ, hỗ trợ cho những công ty làm ăn tốt hơn, tăng cường kinh tế tư nhân, hạn chế độc quyền trong các ngành kinh tế nội địa, giảm biên chế bộ máy quan liêu cồng kềnh, xoá nạn tham nhũng móc ngoặc, thì ở ta vẫn có xu hướng cố kéo dài việc thực thi chính sách phân biệt đối xử, hạn chế cạnh tranh, giãn nợ, xoá nợ cho doanh nghiệp quốc doanh, trong khi các đối tượng khác thì không.

Việt Nam đang dồn vốn cho các doanh nghiệp quốc doanh, trong đó có cả những doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh rất thấp, nợ nần nhiều, thua lỗ rất lớn và thất thoát do tham nhũng cũng rất ghê. Tôi không tin những doanh nghiệp như vậy sẽ “chiếm vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế nước ta thời hội nhập. Những chính sách bảo hộ như vậy không mang lại lợi ích cho nền kinh tế vốn đang non yếu của ta.

- Việt Nam từng lỗi hẹn với một số cuộc hợp tác đa và song phương. Nhiều người cho rằng, nguyên nhân quan trọng dẫn đến lỗi hẹn gia nhập WTO là do sức ỳ về tư duy cũ?

Tôi vừa dẫn 2 ví dụ về việc bảo hộ sản xuất, bảo hộ cho doanh nghiệp. Đó là biểu hiện của tư duy chính sách của ta còn bị đè nặng bởi áp lực của tư duy bao cấp, hành chính.

Để rõ hơn về sức ỳ của tư duy cũ dẫn đến chậm trong hội nhập, tôi xin dẫn ra ví dụ khác để thấy chúng ta đang thực hiện nhiều việc mà thế giới đã làm từ lâu nhưng lại làm rất chậm. Đó là vấn đề cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước.

Sau 15 năm ta mới CPH được 9% tổng số vốn. 91% số vốn còn lại nay quyết định phải thực hiện trong 4 năm. Tôi sợ đó không phải là quyết định đã được tính toán kỹ. Phải chăng là do sức ép của hội nhập? Và ta phải chạy từ hữu sang tả? Đó không phải cách điều hành nền kinh tế thời hội nhập?

Nói chung, để hội nhập thành công, Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm. Trước hết như Đảng ta đã chỉ đạo là thay đổi tư duy nhận thức, sau đó là thực hiện một loạt những đổi mới (như đối với hệ thống pháp luật, đổi mới cách điều hành nền kinh tế, trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế Việt Nam). Nghĩa là phải xây dựng nền kinh tế Việt Nam thành một nền kinh tế có sức cạnh tranh để phát triển cùng thời đại, để tham gia cuộc đua thời đại./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website