nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Bên lề Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ - 3 CÁI SƯỚNG CỦA NHÀ ĐÀM PHÁN

HOÀNG HẢI VÂN thực hiện

Báo Thanh Niên- Mừng Xuân Nhâm Ngọ 2002

Kể đến vòng đàm phán cuối cùng, bỗng dưng ông nói: "Trước khi thoát ly tham gia cách mạng, tôi là một thợ cày thực thụ, cày đường cày thẳng tắp, bừa ruộng mà để cho nước trải đều xăm xắp trên thửa ruộng, việc đó không dễ chút nào. Trình độ tôi cỡ đó rồi đấy!". Thì ra, "tính chuyên nghiệp" ở ông Nguyễn Đình Lương, Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, đã là bản tính...

Ông kể, lúc ấy là ngày 20 tháng 5 năm 1996, ông đến Washington cùng Bộ trưởng Thương mại Việt Nam khi đó là ông Lê Văn Triết. Hoa Kỳ trao cho ta một bản thông điệp về đàm phán. Họ nói rằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã ra đời, Việt Nam cũng đã làm đơn xin gia nhập, phải dựa trên những nguyên tắc của nó làm cơ sở, rằng phải đàm phán một Hiệp định tổng thể, bao gồm hết cả các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư... Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, bà Charlene Barsefsky giải thích xong, lạnh lùng (khác hẳn với thái độ nồng nhiệt sau này) nói với Bộ trưởng Lê Văn Triết: "Thưa ngài Bộ trưởng, vấn đề khó hiện nay là Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế theo những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa". Ông Lê Văn Triết trả lời rằng điều ấy không có trở ngại gì, vì Việt Nam đã tuyên bố sẵn sàng chung sống với các nước có chế độ xã hội, chế độ chính trị khác nhau. Thực ra, lúc đó có thể hiểu ý tứ sâu xa câu nói đó của bà Barsefsky: ý là do Việt Nam xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, do đó hệ thống luật pháp của Việt Nam khác của Mỹ và thế giới, cuộc đàm phán sẽ khó khăn. Tối hôm đó, tại một quán bar của khách sạn Sheraton nổi tiếng ở Washington, ngồi với ông Joe Damond (sau này là Trưởng đoàn Đàm phán Hiệp định Thương mại với ta) từ 7 giờ đến 12 giờ đêm, ông Lương tìm hiểu thật kỹ ý đồ, tư tưởng, quan điểm của phía Mỹ. "Lúc đó, tôi biết ngay tôi phải làm gì", ông nói. Về nhà, ông thiết kế 5 nguyên tắc đàm phán. Khi Bộ Thương mại trình 5 nguyên tắc lên Chính phủ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó đã ghi một chữ "đồng ý" suốt từ bên này sang bên kia trang giấy. Hôm sau, Bộ nhận được văn bản trả lời: "Nhất trí với đề xuất của Bộ Thương mại". Hiểu được quan điểm, ý đồ của người Mỹ để biết phải chuẩn bị những gì cho một "cuộc chiến" mới, một cuộc chiến bằng trí tuệ. Đó là cái sướng thứ nhất.

Cái sướng thứ hai, ông kể tiếp, tại buổi khai mạc vòng đàm phán thứ 5, cũng tại Washington tháng 5 năm 1998, khác với tất cả những lần trước đó, khi vào phòng họp, thấy xuất hiện hàng loạt những gương mặt mới, nào đó là Đại sứ Hoa Kỳ tại WTO, nào đó là Phó đại diện Thương mại Mỹ kiêm Trưởng nhóm đàm phán nổi tiếng về dịch vụ, Trưởng đại diện về Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ tại Giơ-ne-vơ, Trưởng đoàn đàm phán về Đầu tư... Lúc ấy cũng có cả Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông David Peterson. Ông nhớ lại hơn một năm trước đó, vào tháng 4 năm 1997, Hoa Kỳ đưa cho Việt Nam một dự thảo Hiệp định được thiết kế trên những nguyên tắc của WTO, "trong chuyện này người Mỹ nói rất nghiêm túc, nói WTO là WTO". Dự thảo đó cũng đã đưa một số nước khác và có nước đã ký ngay trong năm 1997. Thế nhưng đối với Việt Nam, sau khi nghiên cứu ta thấy không thể ký được, vì yêu cầu cam kết quá cao, nếu ký thì mình sẽ gặp bất lợi. Ta đã thiết kế lại cho phù hợp với đặc điểm của mình, với lý do "Việt Nam là nước đang phát triển có trình độ thấp". Trước khi sang Mỹ, chúng ta đã đưa bản dự thảo cho họ, khác với dự thảo mà họ đưa cho ta. Phía Hoa Kỳ ngạc nhiên: "Tại làm sao một bản dự thảo mà Hoa Kỳ đưa cho các nước, có nước đã ký kết, mà Việt Nam thì không ký?" Họ đã cho các chuyên gia nghiên cứu dự thảo của ta và họ thấy ta đúng, họ chấp nhận. Không những vậy, người Mỹ còn cám ơn ta vì ta đã đưa ra một lộ trình mà Mỹ có thể áp dụng cho các nước có điều kiện tương tự mà trước đây chưa hề có khuôn mẫu. Tại bàn đàm phán, Trưởng đoàn đàm phán Mỹ, ông Joe Damond nói với Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam: "Thưa ông Lương, chúng tôi rất ngạc nhiên về sự tiến bộ của Việt Nam, và chơi với một đối tác như các ông chúng tôi thấy rất sướng". Ai cũng biết, đàm phán với Mỹ là rất khó. Nhật Bản, châu Âu, Trung Quốc cũng rất ngán. Ông bảo: "Lúc đó tôi cũng sướng, lòng tự hào dân tộc được kích lên, sung sướng lắm chứ, kiêu hãnh lắm chứ!". Cuộc chơi này là cuộc chơi trí tuệ, phải thắng bằng trí tuệ. Tất nhiên đó chưa phải là bản dự thảo cuối cùng, nhưng hai bên đã "gặp nhau", đã thấy ánh sáng. Từ đó cuộc đàm phán bước vào giai đoạn thực chất. Sau đó, mỗi bên từng bước lùi một tý, cho đến ngày kết thúc.

Cái sướng thứ ba, đó là cái sướng nhớ đời. Ngày 03 tháng 7 năm 2000, đến phòng đàm phán, cũng thấy chuyện lạ. Phía Hoa Kỳ, ngoài các thành viên đàm phán, còn có 4 vị mới, được giới thiệu là người của Bộ Ngoại giao, tức là Nhà Trắng rất quan tâm đến vòng đàm phán này. Ông vỗ đùi người ngồi bên cạnh: "Thế này là xong rồi!". Ông liên hệ ngay đến chuyện Nhà Trắng muốn kết thúc đàm phán để chuẩn bị cho ông Bill Clinton đi Hà Nội. Ông Bill Clinton muốn đi vào lịch sử như một người mở ra trang sử mới trong quan hệ với Việt Nam (bình thường hoá quan hệ ngoại giao) xếp trang sử Việt Nam lại (bình thường hoá quan hệ thương mại). Do đó, kỳ này dứt khoát sẽ ký. Và sau 5 năm vất vả, đúng 14h 00 ngày 13 tháng 7 năm 2000, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ, đại diện Thương mại Barshefky chính thức ký Hiệp định Thương mại giữa hai nước (thực tế, do trục trặc kĩ thuật, lễ ký kết tiến hành lúc 14h 00 ngày hôm sau, ngày 14 tháng 7 năm 2000). Sau đó, 16h 00 ngày 13 tháng 7, Tổng thống Bill Clinton họp báo thông báo việc hai cựu thù, Mỹ và Việt đã ký Hiệp định Thương mại, bình thường hoá quan hệ Kinh tế - Thương mại. Từ Nhà Trắng, tôi về Thương vụ Việt Nam tại Washington, tràn ngập một cảm giác nhẹ nhõm và thanh thản. Tôi bỗng thèm một cái gì đấy, nhưng không biết là thèm cái gì. Nhìn trên giá sách thấy một chai Votka Smirnov, rót mỗi anh một ly, sao mà ngon thế, lâu lắm rồi tôi mới lại uống rượu". Rồi ông nói chuyện hồi trai trẻ, ông vốn là một thợ cày, một thợ cày thứ thiệt, chuyên nghiệp và "uống rượu dữ lắm", uống "quốc lủi", sang Nga thì uống Votka. Nhưng khi bắt đầu làm việc với người Mỹ, thói quen uống rượu dần mất hẳn. Tại sao vậy? Ông kể: hồi mùa hè năm 1994, lần đầu tiên ông đi Mỹ, đến San Francisco, suốt 3 tuần chiêu đãi liên tục mà ông không thấy ai uống bia uống rượu cả. Lần thứ hai, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Mỹ dẫn đoàn đến Hà Nội, ông Nguyễn Công Tạn tổ chức chiêu đãi, trên bàn đủ các thứ bia rượu, nhưng ông để ý cũng không thấy người Mỹ nào uống rượu. Ông đã cố tìm lời giải, mới biết nguyên nhân đơn giản là người Mỹ đi làm việc hầu như ai cũng tự lái xe, mà lái xe uống rượu ở Mỹ bị phạt rất nặng, việc không uống rượu trong bàn tiệc do đó đã trở thành thói quen. Ông thấy đây là thói quen hay, nên quyết định bỏ rượu. "Cái gì họ hay thì mình học, sao lại không nhỉ?". Hôm ấy ông mới quay lại uống một ly Smirnov…mà thấy sướng, một phút sướng nhớ đời./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website