nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

Chuyện của Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ

Báo Công Thương  - 13/07/2010 14:44

Tổng thống J.W. Clinton chúc mừng ông Nguyễn Đình Lương sau Lễ ký Hiệp định TM Việt- Mỹ. (Ảnh tư liệu)

 

>>> Vài cảm nghĩ về nước Mỹ

CôngThương - Quá trình đàm phán gần 5 năm trời diễn ra với nhiều thời điểm cam go, kịch tính… như thế nào? Báo Công Thương xin đăng tải lại bài trò truyện của Phóng viên Báo Thương Mại nay là Công Thương) với ông Nguyễn Đình Lương 10 năm trước để bạn đọc có thêm tư liệu.

Ông người thấp đậm, khuôn mặt đày đặn, đôi mắt nheo cười, trí tuệ, hóm hỉnh. Quê ông kề bờ sông Lam hiền hòa, xanh mát quanh năm – làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Thịnh Lạc chỉ cách quê Bác có hai cây số chếch về hướng tây, và lệch về hướng nam non cây số là làng cụ Phan. Quả là may mắn cho ông bởi được cắt rốn giữa vùng “đại linh, nhân kiệt”. Thời kháng Pháp, Hùng Tiến là khu tự do, có trường Tân Dân nổi tiếng, dân tứ xứ đổ về theo học, sau này khá nhiều người thành danh, thậm chí “đại danh”. Hết cấp 2, ông đàn sách xuống Vinh theo học trường Huỳnh Thúc Kháng – trường vốn rất nổi tiếng vừa kỷ niệm tuổi “đại lão” (80) của mình. Nghe nói, nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển cũng là môn đệ của trường này. Khi trưởng thành, ông mấy lần sang Liên Xô tu nghiệp, rồi về nước từng làm nghề giáo ở Đại học Ngoại thương trước khi chuyển sang Bộ Thương mại và nhận chức Vụ trưởng Vụ I vào giữa những năm 80 – khi mới 45 tuổi. Nói là “mới” bởi thời đấy , cỡ vụ trưởng như ông là trẻ. Từ đó, ông thuần phụ trách các vụ “hướng ngoại”: Thị trường ngoài nước, Âu – Mỹ và tới thời điểm hiện tại là Trợ lý Bộ trưởng. Ông tên là Nguyễn Đình Lương.

Tôi có ấn tượng khó quên với ông Lương ngay từ khi mới về bản báo (1994), phần vì công việc, phần vì cả họ lẫn tên đệm của ông đều trùng với tên khai sinh tôi. Sau đó vài năm, nhiều lần tôi muốn tiếp cận ông, nhưng ông bận, căn phòng tầng 2, số nhà 21 Ngô Quyền – nơi ông làm việc không phải lúc nào cũng sáng đèn. Sau này tôi mới hay, ông đang giữ một trọng trách – trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Trong lịch sử đàm phán và ký kết các hiệp định kinh tế, có lẽ chưa bao giờ ta gặp một cuộc bàn thảo nào kéo dài tới 5 năm, với 11 vòng bàn cãi mới ngã ngũ như vậy. Giờ thì Hiệp định đã được ký, chỉ chờ Quốc hội hai nước chuẩn y, còn doanh nhân hai phía thì đang có những toan tính làm ăn lớn.

Chiều cuối năm, tôi rụt rè gõ cửa phòng ông – vẫn căn phòng vừa nói – nơi ông đã ngồi 10 năm có lẻ. Trước mắt tôi, ông vẫn hiền hậu và hóm hỉnh. “Tôi sinh năm Rồng, nhưng lại đẻ vào mùa khô, tử vi bảo là “ lỗi số”. Rồng không có nước không bay được nên tôi an phận, không đòi hỏi gì ngoài những cái trời đã ban cho. Tôi sống thoải mái, thanh thản”… Ông Lương cười, nhẩn nha mở đầu câu chuyện như thế. Giọng “nghệ” lối thường vẫn khó nghe, nhưng âm lượng vang, cộng cách nói lúc thăng, lúc giáng khiến người tiếp chuyện cứ hồi hộp, đợi chờ. Ngay thời còn làm Vụ trưởng vụ I, tôi đã từng cắp cặp đi đàm phán với hầu hết các nước trong khối SEV – ông Lương chuyển giọng “nghiêm trọng” – nhưng chưa có pha nào gay cấn như cái lần đàm phán này.

Nghe qua thì số ông toàn suất ngoại – mà lại thuần những Âu – Mỹ giàu có, thế mà bảo “lỗi số” thì thật lạ - tôi ngắt lời ông. Hơi câu mày, ông Lương chả giấu giếm: Đúng là ông ít đi tây, ít đấu trí mới có lối nghĩ mòn như thế. Nhưng thôi, để tôi kể cái đận” hiệp định’ này thì ông sẽ rõ.

Mốc đáng ghi nhớ đầu tiên và cũng là thời khắc quyết định “sự khổ ải” của tôi với công việc hệ trọng này là vào một ngày tháng 4 năm 1996, khi đó tôi tháp tùng Bộ trưởng Lê Văn Triết sang Washinton họp Hội nghị diễn đàn các doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương. Tại đây, bà Basepxki – khi đó là Phó đại diện thương mại Hoa Kỳ có trao cho Bộ trưởng ta một thông điệp các quan điểm của Mỹ về việc bình thường hóa quan hệ thương mại hai nước. Không hiểu sao, linh tính mách bảo tôi rằng, có một cái gì đó rất hệ trọng đang chờ mình. Và quả đúng như vậy, vào tháng 11/96, tôi được cấp trên giao cho cương vị phụ trách Đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ mà các thành viên (đủ cả 22 bộ, ngành ) lên tới 40 người.

Đúng là nhà đàm phán “chuyên nghiệp”- nói có sách, mách cớ chứng – ông Lương đứng dậy lôi từ trong chiếc tủ sắt cũ kỹ ra một chồng giấy tờ ngồn ngộn. Đây là danh sách đoàn đàm phán của ta và đây là 11 bộ hồ sơ, gồm tờ trình và phương án đàm phán của 11 vòng bàn thảo cả thảy. Rồi ông giở quyển sổ tay, chi chít những chữ, ghi chép cẩn mật từng lộ trình đàm phán. Quái lạ, giữ trọng trách như ông, thư ký chả thiếu, máy tính có thừa, vậy mà vẫn có thói quen ghi chép bằng tay tỉ mẩn, công phu quá chừng! “ Nghe nói lúc đầu Hoa Kỳ trao cho ta tới mấy ngàn câu hỏi, đề nghị trả lời, ông có “ hoảng” không?”- tôi hỏi. Ông Lương chống hai tay lên bàn, đứng dậy đi đi, lại lại: “Hơn bất cứ ai, chúng tôi cảm nhận một cách sâu sắc là khó, bởi cứ nhìn Hoa Kỳ đàm phán với EU, với Trung Quốc thì rõ. Tôi chăm chú theo dõi các thông điệp hàng năm của Tổng thống Mỹ, rồi những bài phát biểu của bà Basepxki ở Quốc hội, biết rõ quan điểm của họ là thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại, lấy WTO làm cơ sở cho các cuộc đàm phán. Bất ngờ, ông Lương ngồi xuống ghế, nhìn xoáy vào mắt tôi: Nhưng ông có biết công việc thực sự là một “cuộc chiến” từ khi nào không – đó là vào tháng 4/97, khi phía Hoa Kỳ trao cho ta một bản dự thảo Hiệp định gồm những 4 phần, trong đó có nhiều nội dung rất mới, khá xa lạ với luật lệ hiện hành của ta. Chúng tôi mày mò lặn lội đến các nhà kinh tế, các khoa học gia hàng đầu, song vì nó quá mới nên họ cũng chả giúp được gì nhiều.

Vậy là phải tự “chiến đấu”- ông Lương xoay người trên ghế, cặp mắt nheo nheo, nhớ lại: không có 30/4 và 1/5, cũng chẳng có tết dương lịch, thậm chí mới mùng 2 tết âm lịch chúng tôi đã phải ngồi nghiền ngẫm, phải đọc từng chữ, từng câu, từng điều, từng chương, rồi đối chiếu với luật lệ của WTO, với các hiệp định mà Hoa Kỳ ký với các nước; đối chiếu với các luật lệ, chính sách của ta xem cái gì khớp, cái gì vênh. Nhưng rồi, mọi chuyện cũng hòm hòm và vào quảng mùa hè năm 98 ta đã làm chủ được tình thế qua việc hoàn tất bản dự thảo do chính Việt Nam biên soạn và sau khi được duyệt , chúng tôi đã trao cho phía Hoa Kỳ. Cũng chính nhờ bản dự thảo này mà thế cờ đàm phán xoay chuyển –ông Lương ngả người trên ghế, thở phào, thư giãn.

Trời mùa đông tối nhanh, loáng cái đã hết buổi. Ông Lương cáo lỗi vì phải đến đám cưới con một người bạn, hẹn sáng mai chuyện tiếp.

………………

“Thưa, nghe nói đoàn đàm phán Hoa Kỳ bố trí toàn những luật sư có tiếng?”- Tôi thăm dò khi bắt đầu cuộc chuyện trò buổi sáng hôm sau. Đúng thế - ông Lương không chút đắn đo- Đại diện thương mại Hoa Kỳ là cơ quan ngang bộ, trực thuộc Tổng thống, suốt ngày cắp cặp đi đàm phán, cả song biên lẫn đa biên. Bởi thế, “dàn” này là một “đội tuyển quốc gia”, gồm những luật sư giỏi nhất, thông làu kinh sử, luật lệ trên thế giới. Đứng đầu cơ quan đại diện thưong mại Hoa Kỳ là bà Basepxki vừa nói ở trên, vốn là một phụ nữ mảnh mai, ít nói, mới gặp có phần lạnh lùng, nhưng khi quen biết rồi thì lại rất nồng nhiệt. Bà này từng là một luật sư giỏi, rất nổi tiếng vì cãi thắng kiện trong vụ buôn bán gỗ giữa Mỹ và Canada thuở nào. Nay thì bà đã mang lại nhiều thành công cho nước Mỹ qua các cuộc đàm phán trong khuôn khổ WTO, APEC, NAFTA, rồi đàm phán với Trung Quốc. Ngoài ra, còn phải kể tới Phó đại diện thương mại- Phisơ, Trưởng đoàn đàm phán phía Hoa Kỳ - Damon đều là những luật sư giỏi giang và đầy kinh nghiệm – Còn về phía ta, nghe nói toàn những cán bộ kiêm nhiệm- tôi thăm dò. Quan điểm của tôi là “ ba ông thợ da mới thành Gia Cát Lượng” nên luôn coi trọng sức mạnh tập thể, chứ mình tôi có lẽ chả làm được gì – ông Lương khiêm tốn thật lòng.

Vừa nói, ông vừa giở danh sách các nhà đàm phán phía ta- đây ông xem, đều là công chức anh em cả. Này là Phạm Đình Chướng, Cục trưởng Cục sở hữu công nghiệp cùng các phụ tá Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Bảy của Bộ KHCN&MT; đây là Đinh Văn Ân, Vụ trưởng vụ pháp luật đầu tư cùng Trần Hòa Hùng cảu bộ Kế hoạch và đầu tư; rồi Cục phó Cục bản quyền tác giả Nguyễn Khắc Chiến – Bộ văn hóa thông tin; Vụ phó vụ Âu- Mỹ Nguyễn Hồng Dương, Vụ phó vụ XNK Trần Quốc Khánh của Bộ Thương mại; Vụ phó vụ hợp tác quốc tế Vũ Đức Long cùng phụ tá Nguyễn Khánh Ngọc của Bộ Tư pháp; Nguyễn Toàn Thắng, Vụ trưởng vụ tổng hợp – Ban kinh tế trung ương… Nhìn chung, đoàn ta thuần những cán bộ kiêm nhiệm từ 22 bộ, ngành, nhưng chả vì thế mà không có những cá nhân sắc sảo, thông tỏ luật lệ, chính sách từng lĩnh vực mình phụ trách. Chính họ đã làm nên thành công của các vòng đàm phán và đưa đến kết quả cuối cùng- ông Lương khẳng định- Phẩm chất của người đàm phán là gì thưa ông?- tôi chen ngang – Tiếng Anh giỏi để trực tiếp “chiến đấu” là vấn đề đầu tiên, song quan trọng hơn là nắm thật chắc hệ thống pháp luật Việt Nam, hiểu rõ luật pháp quốc tế về lĩnh vực mình phụ trách, có kiến thức sâu về WTO- ông Lương bấm đốt ngón tay khẳng định. Tôi vẫn nói với anh em, “cuộc chơi” này là cuộc chơi trí tuệ. Kinh nghiệm bao năm đàm phán của bản thân nhắc nhở tôi luôn đặt hai chữ “cẩn trọng” lên đầu. Nguyên tắc bất di, bất dịch của tôi trong đàm phán là: “Một ngàn lần cẩn thận không thừa và một ngàn lần cẩn thận cũng chưa chắc hết sai sót”. Thú thực là trong gần 5 năm trời, không biết tôi đã bao lần nhắc nhở anh em về nguyên tắc đó. Nhưng rồi, dường như họ cũng thấy cái lo của tôi mà cẩn tắc từng dấu chấm, dấu phảy và kết quả như đã thấy: Hiệp định đã được ký kết với các câu chữ, nội dung, điều khoản chặt chẽ, kín kẽ tới mức cao nhất mà chúng tôi có thể - ông Lương xoa tay, nhìn tôi cười: toàn nói chuyện đàm phán, chắc nhà báo đau đầu, nhọc tâm hề? ta chuyển sang chuyện bếp núc thư giãn tý coi.

- Ông đi đàm phán thế, chắc công quỹ chả đến nỗi “bóp hầu bao”, tiêu xài thoải mái chứ?- tôi đùa, vẫn bám lấy cái lối nghĩ cũ mòn.

- Làm gì có chuyện “cơm bưng, nước rót”, tiêu xài thoải mái như ông nghĩ! Ngược lại, ăn ngủ, sinh hoạt tất tật chỉ trong những căn hộ khép kín (guest house). Vừa bay sang Mỹ là “đổ bộ” xuống Washinton, mượn xe sứ quán phi ra ngoại ô đi chợ mua gạo, thịt, rau dưa về chất vào tủ lạnh đủ dùng trong cả tuần đàm phán- nghe ông nói, bất giác tôi nhớ lại chuyến đi châu Âu vừa rồi mới thấy mấy ông bà thương vụ của ta ở đó sao có cách ăn ở giống ông Lương đến thế.

Ở nhà không biết cứ tưởng “đi sứ” là sướng, ai dè! - Ấn tượng ủa ông với những đồng nghiệp Mỹ trong mấy năm đàm phán là gì ?- thấy điện thoại ông cứ réo vang, sợ phiền, tôi hỏi ông câu cuối.

Rất hay là chơi với họ khó sòng phẳng, hai bên chẳng đón đưa, tiễn biệt gì, cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ngủ, không ai “bao” ai. Nhân đây lại nhớ chuyện, có lần phái đoàn Mỹ sang Hà Nội đàm phán, chúng tôi có nhã ý mời họ đi tham quan Vịnh hạ Long. Đoàn Mỹ rất vui, nhưng chỉ xin đi với điều kiện họ tự trả tiền, nếu không được thì họ xin… không đi! Hóa ra là luật Mỹ như vậy và người Mỹ thực hiện nó nghiêm lắm!

Nhìn tấm ảnh ông Nguyễn Đình Lương bắt tay Tổng thống Mỹ Clinton tại phòng Roosevelt trong Nhà Trắng vào 4h chiều ngày 13/7 năm 2000 (sau khi ký hiệp định) cứ tưởng là từ nay ông sẽ được nghỉ ngơi bởi đã hoàn tất trọng trách. Nhưng không, ở cương vị mới – Trợ lý Bộ trưởng, công việc của ông xem ra còn nặng nề lắm. Phần đàm phán và ký hiệp định coi như mới xong non nửa; việc triển khai nó trong cuộc sống (khi được phê chuẩn) mới là bước quyết định. Ông Lương bộc bạch – thực ra thì tôi cũng đã muốn nghỉ ngơi sau mấy năm đấu trí căng thẳng, vả lại cũng đã “ lục tuần “ rồi còn gì , nhưng công việc dường như vẫn chưa buông tha… Ngắm nhìn thần thái cùng trí tuệ minh mẫn, sắc sảo, tôi thấy ông còn cần cho công việc quốc gia lắm lắm, mặc dù nếu tinh mắt sẽ thấy hai bên chân tóc mai ông đã có nhiều sợi bạc- kết quả của những đêm dài suy tư vì việc lớn.

Hà Nội, Noel 2000

ĐÌNH CHÚC

(Bài đăng Báo Thương Mại- Số Tết Tân Tỵ-2001)

Tổng thống J.W. Clinton chúc mừng ông Nguyễn Đình Lương sau Lễ ký Hiệp định TM Việt- Mỹ. (Ảnh tư liệu)
      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website