nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 3
Lượt thứ       : 72661

TIA SÁNG LỢI ÍCH QUỐC GIA SOI RỌI TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN

LƯU TIỀN HẢI thực hiện

Báo Đầu tư - Mừng xuân Bính Tuất

Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực thực thi đã tạo bước đột phá đối với sự phát triển sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam. Ẩn sau thành công đó là sự nỗ lực không nhỏ của các nhà đàm phán Việt Nam, với mục đích tối thượng là phải đặt lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích phát triển lên trên hết như lời ông Nguyễn Đình Lương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán BTA nhấn mạnh với báo Đầu tư trong cuộc trò chuyện đầu năm.

- Tạm coi ông và đoàn Việt Nam trong BTA là những người đầu tiên đàm phán với đối tác Hoa Kỳ về lĩnh vực kinh tế, thương mại. Xin ông cho biết cảm tưởng ban đầu của ông khi được giao công việc khó khăn này?

Sợ, sợ lắm.

- Ông sợ điều gì?

Cái gì cũng sợ. Mặc dù đến lúc đó tôi đã có thâm niên gần 20 năm làm nghề đàm phán, nhưng chủ yếu là đi đàm phán với các nước XHCN, trên quan hệ đồng chí, cùng một thể chế kinh tế, cùng một hệ thống luật pháp tương đồng. Sau khi Liên Xô tan vỡ, tôi đi đàm phán với một số nước như Xin-ga-po, Thụy Sỹ, Na-uy, Ca-na-đa…, nhưng họ không phải là Mỹ. Khi đó tôi chưa hiểu gì về Mỹ, chỉ biết là đàm phán với Mỹ rất khó, người châu Âu, người Nhật Bản, người Trung Hoa giỏi giang như vậy mà cũng “ớn” Mỹ lắm.

- Cái gì là khó đối với ông?

Cái gì cũng khó!

Đối với chúng tôi, trước hết là chưa hiểu Mỹ.

Nguyên tắc quan trọng khi đàm phán là phải hiểu đối tác. Hiểu càng sâu càng tốt. Chưa hiểu các đối tác thì khoan nghĩ đến thành công.

Mỹ là một thực thể khó hiểu, nhưng khi đó, người ta bảo với tôi rằng, nếu như trên thế giới có ai hiểu Mỹ thì Việt Nam là người hiểu Mỹ nhất, vì có hiểu Mỹ thì Việt Nam mới thắng Mỹ.

Nhưng dần dà tôi hiểu thêm, ngày xưa chiến tranh có khác ngày nay làm ăn kinh tế. Muốn làm ăn kinh tế với Mỹ phải hiểu Mỹ kỹ hơn, rộng hơn. Thế là tôi đi tìm sách đọc về Mỹ, tôi phải hiểu Mỹ cả về lịch sử, chủng tộc, văn hoá, chính trị, kinh tế, pháp luật, đặc biệt là pháp luật. Tôi phải hiểu cả đặc thù phát triển của nền kinh tế Mỹ so với lịch sử kinh tế thế giới, hiểu vai trò kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới, hiểu mức độ chi phối của Mỹ trong các hệ thống tổ chức kinh tế quốc tế và đặc biệt là hiểu được luật pháp Mỹ được xây dựng trên thế luật của kẻ mạnh như thế nào.

Mọi cái cứ vỡ vạc dần ra, khi tôi có cảm giác tôi hiểu những nét cơ bản về nước Mỹ, trong tôi nhen nhóm dần niềm hi vọng là mình sẽ ngồi nói chuyện được với người Mỹ.

Nguyên tắc thứ hai trong đàm phán là phải thống nhất được luật chơi. Rõ ràng, tương quan lực lượng, đặc thù của mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, không thể có chuyện Việt Nam áp đặt luật chơi, mà chỉ có ngược lại.

Tháng 4 năm 1997, phía Hoa Kỳ trao cho chúng tôi bản dự thảo Hiệp định “Tổng thể” gồm 4 phần chính: thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và quan hệ đầu tư, thiết kế trên những nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Liếc qua bản dự thảo, tôi hơi sợ vì gồm những khái niệm hoàn toàn mới.

Bình tĩnh, chúng tôi đi tìm thầy, nhưng không ai giúp được. Thế là ngày đêm, đêm ngày, chúng tôi phải đọc và đọc. Chúng tôi phân công tìm và đọc, nghiên cứu các văn kiện WTO, các văn bản pháp luật Hoa Kỳ liên quan, các Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ ký với các nước, cả song phương, cả đa phương, phân tích, mổ xẻ, đối chiếu các quy định trong WTO trong các Hiệp định Hoa Kỳ đã ký với bản dự thảo Hoa Kỳ trao cho Việt Nam, tham chiếu luật lệ các nước khác… Chỗ nào không hiểu thì tìm chuyên gia nước ngoài, chuyên gia Mỹ giảng cho. Virginia Foote, Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ - Việt đã giúp chúng tôi nhiều trong việc tìm thầy. Trong số những thầy đó thì nhà tư vấn Dan Price (sau này là trợ lý các vấn đề kinh tế quốc tế của Tổng thống Bush) là thuộc bài nhất, kiến thức phong phú nhất, tư vấn hiệu quả nhất.

Anh em trong đoàn ngồi lại với nhau, thống nhất với nhau: Những gì chưa hiểu thì chưa đưa vào cam kết, vì nếu bản thân người đàm phán không hiểu thì sao người ngoài cuộc có thể hiểu được. Anh em luôn nhắc nhau phải hiểu thật chắc cả WTO và cả luật lệ trong nước. Phải hết sức cẩn trọng, làm cái nghề này, một nghìn lần cẩn trọng vẫn không thừa, vẫn chưa chắc đã hết sai sót. Quyết không để sai sót, để rồi lịch sử phỉ nhổ.

Trong quá trình tự tìm kiếm bổ túc kiến thức chưa xong, tri thức chưa đầy đủ, quan điểm chính thức của mình chưa được hình thành, thì ở ngoài ai chê, ai chửi cũng mặc và các vòng đàm phán tiếp theo chủ yếu là để nghe phía Hoa Kỳ giải thích, gợi ý cho họ nói càng nhiều càng tốt, phải nắm cho rõ mục tiêu, ý đồ và những yêu cầu của phía đối tác. Có hiểu cặn kẽ như vậy mình mới thiết kế, xây dựng các phương án của mình.

Rồi, những ngày u tối cũng qua đi, những ngày hè ấm nắng của năm 1998 đã đến, chúng tôi đã làm được việc cần phải làm là sau khi hiểu được những yêu cầu của Mỹ, hiểu được luật chơi WTO, đối chiếu với khả năng và những khó khăn tạm thời của Việt Nam, chúng tôi đã xây dựng được một bản “đối dự thảo” của phía Việt Nam.

Bản dự thảo của Việt Nam vẫn là xây dựng trên nguyên tắc WTO, nhưng áp dụng cho nước có trình độ phát triển thấp. Trong đó, trên cơ sở hiểu biết khá vững chắc về luật chơi, chúng tôi mạnh dạn thay đổi một loạt nội dung và viết lại chương “Thương mại dịch vụ”, viết lại điều khoản về “Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại”, xây dựng các lộ trình mở cửa, các nội dung bảo lưu…

Sau này, tôi mới biết là khi nhận được bản dự thảo của Việt Nam, phía Hoa Kỳ hơi bị “choáng”, bởi xưa nay, chưa có ai làm vậy và bản dự thảo mà Hoa Kỳ gửi cho Việt Nam năm 1997, trước đó có nước đã ký nguyên xi. Sau khi họ thảo luận với nhau, họ thấy những điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi của Việt Nam là đúng. Họ là người đàng hoàng, đúng thì họ chấp nhận.

Giữa tháng 5 năm 1998, Đoàn chúng tôi sang Washington để đàm phán theo dự thảo đó. Bước vào phòng đàm phán, tôi thấy phía Hoa Kỳ có nhiều nhân vật mới quan trọng cùng ngồi dự, linh tính mách bảo tôi sự hệ trọng của cuộc đàm phán này.

Sau khi hai đoàn giới thiệu thành phần của mình, ông Joseph Damond, Trưởng đoàn Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu: “Chúng tôi quá ngạc nhiên về sự tiến bộ của Đoàn Việt Nam… Đàm phán với một đối tác như các ông chúng tôi thấy cũng sướng!”.

Nghe những câu nói đó thật hả lòng, hả dạ. Có lẽ đó là những phút hạnh phúc hiếm hoi của đời tôi.

Sự đánh giá đó là cả một sự thay đổi cách nhìn nhận của người Mỹ đối với Việt Nam. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được làm người đại diện cho một dân tộc anh hùng, đại diện cho trí tuệ Việt Nam trên bàn đàm phán này.

Từ giờ phút đó trở đi, cuộc đàm phán dần đi vào thực chất. Chúng tôi đàm phán với một tư thế vững vàng hơn, tự tin hơn và bản lĩnh hơn và chúng tôi bắt đầu có niềm tin vào Hiệp định sẽ được ký kết.

- Nhiều người, cả phía ta, cả phía Hoa Kỳ thường nhắc đến cách đàm phán linh hoạt của ông. Ông cho ý kiến gì với vấn đề này?

Sau khi Hiệp định được ký kết, ông Joseph Damond có viết một bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số 1 năm 2001) khi nói về lý do hai bên ký được Hiệp định, ông viết: “Trên hết và có lẽ là lý do quan trọng hơn hết là các nhà đàm phán Việt Nam và Hoa Kỳ đã có thể xây dựng niềm tin và thông cảm chung. Tôi rất khâm phục người đối tác của tôi, ông Nguyễn Đình Lương và cộng sự của ông. Theo thời gian tôi đã học cách hiểu rõ không những tầm nhìn của ông và cả sự tin cậy vào lời nói của ông. Tôi tin ông cũng hiểu tôi và tin cậy tôi”.

Phải nói thật rằng, tôi rất vui khi nghe đối tác của tôi, bạn của tôi đánh giá như vậy. Tôi biết rằng, trong quá trình đàm phán, Joseph rất tin tôi và tôi rất tin Joseph, bởi chúng tôi là những người đàm phán thẳng thắn và trung thực.

Tôi tin ở Joseph vì Joseph là một người Mỹ rất nghiêm túc, tận tụy, đầy trách nhiệm và sống rất liêm khiết, giản dị. Joseph phấn đấu cho lợi ích nước Mỹ, chúng tôi kiên cường bảo vệ lợi ích Việt Nam, hai chúng tôi cùng một trách nhiệm là đàm phán thành công. Lợi ích hai nước chỉ có thể có được khi Hiệp định được ký kết và đi vào có hiệu lực.

Tuy nhiên, mọi sự trên đời không phải cái gì cũng đơn giản. Khi chúng tôi bắt đầu cuộc đàm phán, quan hệ ngoại giao đã bình thường, nhưng lịch sử để lại quá nhiều việc mà hai bên phải giải quyết tiếp. Vấn đề Việt Nam trong lòng nền chính trị nước Mỹ vẫn còn nhức nhối lắm. Mối thù với đế quốc Mỹ trong lòng người Việt Nam vẫn quặn đau. Nỗi đau của vết thương chiến tranh, sức nặng của áp lực hậu chiến không dễ dàng làm cho không khí bàn đàm phán chuyển sang màu hồng và nó cứ đè nặng lên vai những người đàm phán từ hai phía. Nếu không có một tia sáng cực mạnh - tia sáng của lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc rọi vào thì cũng khó mà ngẩng mặt lên được để nói chuyện với nhau.

Lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích phát triển của đất nước đòi hỏi chúng tôi phải đứng thẳng người lên, giúp chúng tôi có thêm bản lĩnh, bắt chúng tôi phải biết khôn ngoan.

Việc chúng tôi phải làm là phải đàm phán cho được một Hiệp định, trong đó lợi ích của cả hai bên đầu được đảm bảo, để thiết lập quan hệ buôn bán hợp tác với Hoa Kỳ, để mở đường cho kinh tế Việt Nam phát triển, để mở lối cho Việt Nam sau này gia nhập WTO.

Dần dà, càng ngày tôi càng nhận thức sâu hơn, đây là một cuộc đàm phán để xây dựng quan hệ đối tác làm ăn lâu dài và đây cũng là một cuộc đàm phán để xây dựng lòng tin cậy với nhau của hai cựu thù, mà trước đó chỉ có thù hận. Muốn có quan hệ đối tác lâu dài, muốn có lòng tin thì trước hết đàm phán phải trung thực và thẳng thắn. Và chúng tôi đã áp dụng phương châm đàm phán trung thực, thẳng thắn vốn là bản sắc của con người Việt Nam.

Những cái gì Việt Nam khó chúng tôi nói rõ là khó, khó ở chỗ nào. Những cái gì Việt Nam chưa làm được, chúng tôi nói rõ chưa làm được và yêu cầu Hoa Kỳ rút bỏ. Cũng có những cái mà vào lúc đó Việt Nam chưa làm được, nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận đưa vào Hiệp định để rồi Việt Nam cố gắng lên, như những vấn đề vừa qua ta đã sửa đổi, bổ sung hệ thống luật pháp để làm cho hệ thống luật pháp của ta minh bạch, rõ ràng, tương thích với luật chơi thế giới, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ và thế giới yên tâm vào kinh doanh ở Việt Nam, tạo cho Việt Nam có một luật lệ thông thoáng, công bằng để dễ làm ăn.

- Cuộc đàm phán kéo dài 5 năm và vất vả như vậy, có lúc nào ông buồn chán và thất vọng không?

Thất vọng thì không, buồn thì nhiều. Người phản đối nhiều lắm, họ mắng không tiếc lời, người ủng hộ cũng đông, nhưng lại ít người lên tiếng, họ phải giữ mình. Nhưng niềm tin thì thực sự tôi chưa bao giờ để mất, bởi tôi nhận thức một cách sâu sắc rằng, con đường đang đi, con đường tiến tới bình thường hoá quan hệ kinh tế với Mỹ để rồi sau đó tiến tới gia nhập WTO, là con đường duy nhất đúng để đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, để đất nước phát triển cùng thời đại.

Không những thế, tôi luôn có ý thức giữ cho đồng đội và đối tác không được mất hy vọng. Sau này trong hồi ký của mình, ông Joseph Damond có viết về tôi như sau: “Hơn thế nữa, con người ông toát ra một sự lôi cuốn tự nhiên và ông có khả năng truyền đạt những thông điệp dù tiêu cực nhất theo một cách thức khiến đối tác không cảm thấy mếch lòng và giữ cho mọi người không từ bỏ hy vọng hoàn toàn”. Đó là những lời nói làm vơi đi nỗi buồn của tôi.

- Ông có hài lòng về kết quả đàm phán BTA?

Để cho xã hội đánh giá thì đúng hơn. Về phía những người đàm phán chúng tôi đã cố gắng tối đa để khỏi sai sót./.

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website